Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đặng Văn Hải dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TSKH Đào Trí Úc, bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2014, thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật (mã số: 62 38 01 01).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Căn cứ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Yêu cầu tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước đòi hỏi các công cụ kiểm tra tài chính công có hiệu lực, trong đó Kiểm toán Nhà nước (KTNN) giữ vị trí cơ quan kiểm tra tài chính do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Từ khi thành lập ngày 11/7/1994 theo Nghị định số 70/CP của Chính phủ đến khi Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005 được Quốc hội khóa XI (kỳ họp thứ 7) thông qua, khung pháp luật về tổ chức và hoạt động của KTNN đã từng bước được định hình. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành bộc lộ nhiều bất cập:
- Địa vị pháp lý của KTNN và Tổng Kiểm toán Nhà nước chưa được hiến định trong Hiến pháp – đạo luật cơ bản của Nhà nước;
- Phạm vi kiểm toán chưa bao quát toàn bộ việc quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản công;
- Một số quy định của Luật Kiểm toán nhà nước chưa có sự tương thích đồng bộ với các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước và pháp luật chuyên ngành;
- Thiếu các quy định về chế tài pháp lý cụ thể đối với các hành vi vi phạm pháp luật về kiểm toán nhà nước.
Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: Trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hoàn chỉnh, có hệ thống cả về mặt lý luận và thực tiễn đối với vấn đề hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước dưới góc độ của khoa học lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng pháp luật về kiểm toán nhà nước, đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Phân tích cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước; xác lập các tiêu chí và điều kiện đảm bảo hoàn thiện; phân tích yêu cầu đối với việc hoàn thiện pháp luật kiểm toán nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và luận chứng các giải pháp hoàn thiện.
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về kiểm toán nhà nước và thực tiễn thực hiện trong thời gian qua.
- Đề xuất các quan điểm và hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước trên cơ sở lý luận, thực trạng và việc tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy phạm pháp luật về kiểm toán nhà nước ở Việt Nam; những nguyên tắc, chuẩn mực kiểm toán của Tổ chức Quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI) và pháp luật về kiểm toán nhà nước của một số quốc gia trên thế giới.
- Phạm vi nghiên cứu: Các quy định pháp luật về KTNN qua các thời kỳ, Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành cùng các quy định liên quan trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật từ khi thành lập cơ quan KTNN (11/7/1994) đến năm 2014; không gian nghiên cứu tại Việt Nam và khảo sát so sánh với quy định của một số quốc gia đại diện cho các mô hình kiểm toán trên thế giới.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai nhóm nội dung chính:
Các công trình nghiên cứu trong nước
- Nhóm nghiên cứu về Kiểm toán Nhà nước và pháp luật kiểm toán nhà nước:
- Đề tài độc lập cấp Nhà nước (2006) do GS.TS Vương Đình Huệ chủ nhiệm: "Định hướng chiến lược và những giải pháp xây dựng, phát triển hệ thống kiểm toán ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước", nghiên cứu tổng thể ba phân hệ kiểm toán (KTNN, kiểm toán độc lập, kiểm toán nội bộ).
- Đề tài cấp Bộ (2001) do TS Nguyễn Đình Hựu chủ nhiệm: "Cơ sở khoa học và thực tiễn trong việc xác định phạm vi hoạt động của KTNN và sự khác nhau giữa hoạt động KTNN với Thanh tra Nhà nước và Thanh tra tài chính", phân tích ranh giới và sự chồng chéo chức năng giữa các cơ quan kiểm tra tài chính công.
- Các bài báo khoa học: Đỗ Bình Dương (2000) về vị trí của KTNN trong đổi mới và xây dựng nhà nước pháp quyền; GS.TSKH Tào Hữu Phùng (2001) về địa vị pháp lý của cơ quan KTNN; GS.TS Vương Đình Huệ (2007, 2010) về một năm thi hành Luật Kiểm toán nhà nước và Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2020; Đinh Tiến Dũng (2013) về vai trò của KTNN trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.
- Nhóm nghiên cứu liên quan đến hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước:
- Nghiên cứu về hoàn thiện hệ thống pháp luật: PGS.TS Hà Hùng Cường (2009) về hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền; PGS.TS Trịnh Đức Thảo (2009) về pháp luật trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính.
- Đề tài cấp Bộ chuyên ngành: Hà Ngọc Son (2002) về giải pháp xây dựng hệ thống pháp luật KTNN trước khi có Luật Kiểm toán nhà nước; Hoàng Văn Chương (2008) về cơ sở lý luận và thực tiễn sửa đổi Luật Kiểm toán nhà nước; PGS.TS Lê Huy Trọng và Đặng Văn Hải (2008) về địa vị pháp lý của KTNN trong Hiến pháp.
- Các bài viết chuyên khảo: TS Đinh Trịnh Hải (2010), TS Mai Vinh (2011) về địa vị pháp lý và tính độc lập của KTNN; Ths. Đặng Văn Hải (2011) về kinh nghiệm hiến định địa vị KTNN và chế tài xử lý vi phạm pháp luật kiểm toán; Đặng Văn Hải (2009) với Luận văn thạc sĩ luật học về pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động kiểm toán nhà nước.
Các công trình nghiên cứu ngoài nước
- Văn kiện quốc tế: Tuyên bố Lima năm 1977 của INTOSAI (bản dịch Dự án GTZ năm 2001) gồm 7 phần, 25 điều khoản, xác lập nguyên tắc độc lập và quy chuẩn cho cơ quan kiểm toán tối cao; Tuyên bố Mexico năm 2007; Nghị quyết A/66/209 ngày 22/12/2011 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về sự độc lập của các cơ quan kiểm toán tối cao.
- Khảo sát tổ chức quốc tế: Báo cáo INTOSAI (2001) Mandates of Supreme Audit Institutions khảo sát mô hình địa vị pháp lý tại 70 quốc gia.
- Nghiên cứu so sánh và điển hình quốc gia: Báo cáo so sánh của GS.TS Albert von Mutius (2003) khảo cứu luật kiểm toán của 10 nước (Đức, Pháp, Anh, Nga, Séc, Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan, Hàn Quốc, Việt Nam); báo cáo của Hans Jurgen Fuhrmann (2003) về tính độc lập của cơ quan kiểm toán; tài liệu Dự án GTZ (2001) về cơ sở pháp lý của KTNN Liên bang Đức (Điều 114 khoản 2 Hiến pháp Đức); bài viết của Wang Chang Song (2004) về pháp luật kiểm toán Trung Quốc (Điều 91, 109 Hiến pháp Trung Quốc và quy định "8 điều không được phép" năm 2000); TS Josef Moser (2012) về tính độc lập của Tòa Thẩm kế Áo; Hasan Bisri (2012) về Ủy ban Kiểm toán Indonesia (BPK) theo Hiến pháp 1945.
Khoảng trống luận án giải quyết
Các công trình trước đây chỉ tiếp cận KTNN ở từng khía cạnh kỹ thuật kiểm toán, hoặc nghiên cứu mô hình tổ chức ở mức độ khái quát trước thời điểm sửa đổi Hiến pháp. Luận án giải quyết khoảng trống nghiên cứu bằng cách xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về pháp luật kiểm toán nhà nước (khái niệm, nội dung, đặc điểm, vai trò, tiêu chí hoàn thiện, điều kiện bảo đảm), đồng thời thiết kế khung giải pháp toàn diện từ cấp độ hiến định đến sửa đổi luật chuyên ngành và văn bản dưới luật.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Khái niệm Kiểm toán Nhà nước: Là cơ quan kiểm tra tài chính nhà nước, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính; việc tuân thủ pháp luật; tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước.
- 7 đặc điểm của KTNN: (1) Là cơ quan kiểm tra tài chính từ bên ngoài (ngoại kiểm); (2) Hoạt động mang tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, trung thực, khách quan; (3) Đối tượng kiểm toán là quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước trên phạm vi toàn diện; (4) Chức năng kiểm tra, đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị; (5) Tính chuyên môn, chuyên nghiệp cao; (6) Kiểm toán viên nhà nước vừa là công chức vừa có quyền độc lập chuyên môn và bảo lưu ý kiến; (7) Địa bàn hoạt động phân tán, hàm chứa rủi ro nghề nghiệp.
- Khái niệm pháp luật về kiểm toán nhà nước: Là tổng thể các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong tổ chức và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước với mục đích tăng cường việc kiểm tra, giám sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước, góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công.
- 6 nhóm quan hệ xã hội thuộc nội dung điều chỉnh: (1) Địa vị pháp lý của KTNN; (2) Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; (3) Đối tượng, phạm vi kiểm toán; (4) Cơ chế hoạt động và mối quan hệ với cơ quan nhà nước; (5) Mô hình tổ chức và nhân sự; (6) Giám sát hoạt động và xử lý vi phạm.
- Hệ thống tiêu chí hoàn thiện pháp luật về KTNN:
- Tiêu chí về nội dung: Phù hợp đường lối của Đảng; phù hợp điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội; phù hợp yêu cầu Nhà nước pháp quyền XHCN; phù hợp chuẩn mực INTOSAI và thông lệ quốc tế.
- Tiêu chí về hình thức: Tính toàn diện; tính thống nhất; tính đồng bộ; tính minh bạch, hiệu quả và khả thi; hình thức văn bản; kỹ thuật lập pháp.
- Tiêu chí về tổ chức thực hiện: Tuyên truyền giáo dục pháp luật; đào tạo chuẩn hóa đội ngũ công chức, kiểm toán viên; kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm.
- Các điều kiện đảm bảo: Đảm bảo về kinh tế, chính trị và pháp lý.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Sử dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Triết học Mác - Lênin để phân tích sự vận động của pháp luật kiểm toán theo các điều kiện kinh tế - chính trị cụ thể.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Áp dụng xuyên suốt 4 chương nhằm làm sáng tỏ hệ thống lý luận, đánh giá thực trạng và xây dựng hệ thống giải pháp.
- Phương pháp lịch sử, thống kê, so sánh: Sử dụng tại Chương 3 để phân tích các giai đoạn phát triển và thực trạng văn bản quy phạm pháp luật về KTNN tại Việt Nam từ 1994 đến 2014.
- Phương pháp so sánh pháp luật: Sử dụng tại Chương 2 và Chương 4 để đối chiếu các quy định pháp luật kiểm toán của Việt Nam với chuẩn mực INTOSAI và mô hình pháp lý của các quốc gia khác.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Dữ liệu khảo sát từ tài liệu của INTOSAI (2001) về mô hình tổ chức cơ quan kiểm toán tối cao tại 70 quốc gia được thống kê và tổng hợp như sau:
| Mô hình tổ chức cơ quan kiểm toán tối cao |
Tỷ lệ chung (70 nước) |
Châu Âu |
Châu Mỹ |
Châu Á |
Khối ASEAN |
Châu Phi & Châu Đại Dương |
| Trực thuộc cơ quan lập pháp |
40,0% |
55,0% |
41,6% |
23,8% |
— |
25,0% |
| Cơ quan độc lập |
30,0% |
32,0% |
— |
33,3% |
50,0% |
37,5% |
| Trực thuộc cơ quan hành pháp |
17,0% |
3,2% |
— |
28,5% |
— |
12,5% |
| Mô hình khác (thuộc Nhà vua, Tư pháp) |
13,0% |
9,8% |
— |
14,4% |
— |
25,0% |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Chương này hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước thành các nhóm chuyên đề cụ thể. Đánh giá kết quả đạt được, luận án khẳng định các công trình trước đây đã làm rõ vị trí ngoại kiểm, vai trò phòng chống thất thoát tài chính công và yêu cầu độc lập của cơ quan kiểm toán. Vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết là: Xác lập cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật kiểm toán nhà nước một cách có hệ thống; nhận diện đầy đủ nguyên nhân hạn chế của hệ thống pháp luật hiện hành; xây dựng các tiêu chí hoàn thiện và đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ phục vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
Chương 2: Cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chương 2 làm rõ bản chất của KTNN và pháp luật về KTNN. Tác giả phân tích các đặc trưng điều chỉnh của pháp luật kiểm toán: Kết hợp giữa quy phạm mang tính hành chính, quy phạm tố tụng và quy phạm chuyên môn nghề nghiệp; điều chỉnh các quan hệ thực thi quyền lực kiểm tra tài chính nhà nước; xác lập 3 nhóm quan hệ xã hội cơ bản (với cơ quan lập pháp/hành pháp, với đơn vị được kiểm toán, với bên thứ ba).
Chương này xây dựng bộ tiêu chí hoàn thiện pháp luật về KTNN bao gồm 3 nhóm (nội dung, hình thức, tổ chức thực hiện) và 3 điều kiện đảm bảo (kinh tế, chính trị, pháp lý). Phân tích yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đối với KTNN, tác giả nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát quyền lực nhà nước đối với các nguồn lực tài chính công.
Khảo cứu kinh nghiệm quốc tế, luận án phân tích quy định hiến định tại CHLB Đức (Điều 114 khoản 2 Hiến pháp), Trung Quốc (Điều 91, 109 Hiến pháp và quy định kỷ luật liêm chính năm 2000 gồm 8 điều cấm đối với kiểm toán viên), Indonesia (địa vị Ủy ban Kiểm toán BPK theo Hiến pháp 1945), từ đó rút ra các giá trị tham khảo về tính độc lập, phạm vi kiểm toán và chế tài thực thi.
QUAN HỆ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
Chương 3: Quá trình hình thành, phát triển và thực trạng pháp luật về kiểm toán nhà nước ở Việt Nam
Chương 3 phân kỳ lịch sử hình thành pháp luật KTNN qua 2 giai đoạn: Giai đoạn 1994–2005 (KTNN trực thuộc Chính phủ theo Nghị định số 70/CP) và giai đoạn từ 2005 đến 2014 (KTNN là cơ quan chuyên môn do Quốc hội thành lập, hoạt động theo Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005).
Đánh giá thực trạng, luận án chỉ ra các kết quả đạt được về xây dựng bộ máy, ban hành hệ thống chuẩn mực kiểm toán và phục vụ quyết toán ngân sách nhà nước. Đồng thời, chương này phân tích các hạn chế:
- Địa vị pháp lý chưa được hiến định dẫn đến hạn chế về tính độc lập;
- Phạm vi kiểm toán chưa bao quát hết tài sản công, đất đai, tài nguyên khoáng sản;
- Mâu thuẫn, chồng chéo giữa Luật Kiểm toán nhà nước với Luật Thanh tra, Luật Ngân sách nhà nước;
- Thiếu các chế tài xử phạt hành chính đối với hành vi từ chối cung cấp thông tin, trì hoãn thực hiện kết luận kiểm toán.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Chương 4 xác lập 4 quan điểm hoàn thiện: (1) Thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng; (2) Phù hợp với các yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; (3) Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật; (4) Tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực kiểm toán quốc tế của INTOSAI có vận dụng phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Hệ thống giải pháp được cấu trúc thành các nhóm:
- Giải pháp hiến định: Bổ sung một điều riêng biệt về KTNN và chức danh Tổng Kiểm toán Nhà nước trong Hiến pháp sửa đổi nhằm xác lập vững chắc địa vị pháp lý độc lập.
- Giải pháp hoàn thiện Luật Kiểm toán nhà nước: Sửa đổi toàn diện Luật năm 2005, mở rộng đối tượng kiểm toán đối với mọi cơ quan quản lý sử dụng tài chính công và tài sản công; quy định rõ giá trị pháp lý bắt buộc của báo cáo kiểm toán; bổ sung chế tài pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật kiểm toán.
- Giải pháp hoàn thiện các luật có liên quan: Sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước, Luật Thanh tra, Luật Phòng, chống tham nhũng nhằm tạo sự tương thích, phân định rõ phạm vi hoạt động giữa KTNN và cơ quan thanh tra.
- Giải pháp tổ chức thực hiện: Nâng cao năng lực đội ngũ kiểm toán viên nhà nước, hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kiểm toán và tăng cường cơ chế kiểm tra, giám sát chất lượng hoạt động kiểm toán.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Thống nhất nhận thức khoa học về khái niệm, bản chất ngoại kiểm và 7 đặc điểm đặc thù của KTNN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh về pháp luật kiểm toán nhà nước; phân loại 6 nhóm nội dung điều chỉnh và chỉ rõ 5 đặc điểm cấu thành (kết hợp quy phạm hành chính, tố tụng và chuyên môn).
- Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về KTNN gồm 3 nhóm (nội dung, hình thức, tổ chức thực hiện) và xác định 3 điều kiện bảo đảm (kinh tế, chính trị, pháp lý).
- Luận chứng cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa yêu cầu kiểm soát quyền lực tài chính trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với nguyên tắc độc lập của cơ quan kiểm toán tối cao.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Đánh giá toàn diện thực trạng quá trình lập pháp về KTNN tại Việt Nam từ năm 1994 đến năm 2014, chỉ ra các nguyên nhân thuộc về kỹ thuật lập pháp và thể chế.
- Cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho việc hiến định địa vị pháp lý của KTNN trong quá trình sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (thể hiện tại Điều 118 Hiến pháp năm 2013).
- Đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung đồng bộ Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan (Luật Ngân sách nhà nước, Luật Thanh tra).
- Kiến nghị quy định cơ chế chế tài xử lý vi phạm trong hoạt động kiểm toán nhà nước và thiết lập cơ chế kiểm soát chất lượng kiểm toán.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu vào khía cạnh lý luận, lịch sử và thể chế lập pháp về KTNN dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật; nguồn tài liệu tham khảo nước ngoài chủ yếu khai thác từ các dự án hỗ trợ kỹ thuật (GTZ, ADB) và thông tin của INTOSAI đối với một số quốc gia đại diện; chưa đi sâu phân tích các khía cạnh kỹ thuật kiểm toán chi tiết trong từng phân ngành kinh tế cụ thể.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu thực tiễn thi hành quy định về KTNN sau khi được hiến định trong Hiến pháp; nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quy trình kiểm toán hoạt động (đánh giá tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả); hoàn thiện khung pháp lý về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực kiểm toán nhà nước.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học cho Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các ban soạn thảo trong việc xây dựng, sửa đổi Hiến pháp, Luật Kiểm toán nhà nước và các luật về quản lý kinh tế - tài chính công.
- Đối với cơ quan Kiểm toán Nhà nước: Là tài liệu tham khảo phục vụ việc xây dựng quy chế nội bộ, hoàn thiện hệ thống chuẩn mực KTNN, nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán và đào tạo, bồi dưỡng kiểm toán viên nhà nước.
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên: Dùng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy chuyên đề về luật học, quản lý công, kiểm soát tài chính công tại các trường đại học, viện nghiên cứu chuyên ngành luật và kinh tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo khảo sát của INTOSAI (2001) tại 70 quốc gia, mô hình tổ chức cơ quan kiểm toán tối cao nào phổ biến nhất?
Theo khảo sát của INTOSAI năm 2001 trên 70 quốc gia, mô hình tổ chức cơ quan kiểm toán tối cao trực thuộc cơ quan lập pháp chiếm tỷ lệ cao nhất với 40%, tiếp theo là mô hình độc lập chiếm 30%, mô hình trực thuộc cơ quan hành pháp chiếm 17%, và 13% còn lại thuộc các mô hình khác (như thuộc Nhà vua hoặc thuộc ngành tư pháp). Riêng tại khu vực ASEAN, 50% số quốc gia (gồm Indonesia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Malaysia) lựa chọn mô hình độc lập.
2. Luận án xác định pháp luật về kiểm toán nhà nước bao gồm những nhóm quy phạm nào?
Pháp luật về kiểm toán nhà nước là tổng thể các quy phạm mang tính đa dạng, bao gồm:
- Quy phạm mang tính hành chính: Điều chỉnh địa vị pháp lý, cơ cấu tổ chức, mối quan hệ giữa KTNN với Quốc hội, Chính phủ;
- Quy phạm mang tính tố tụng: Điều chỉnh trình tự, thủ tục kiểm toán, kiểm soát chất lượng kiểm toán, công khai kết quả và giải quyết khiếu nại, kiến nghị;
- Quy phạm mang tính nghề nghiệp chuyên môn: Hệ thống chuẩn mực kiểm toán, quy tắc đạo đức nghề nghiệp và nghiệp vụ kiểm toán.
3. Kinh nghiệm của Trung Quốc về bảo đảm tính độc lập của kiểm toán viên được luận án đề cập ra sao?
KTNN Trung Quốc xác định kỷ luật liêm chính là yếu tố bảo đảm cho tính độc lập của kiểm toán viên. Vào tháng 1/2000, KTNN Trung Quốc ban hành "Quy định về tăng cường kỷ luật kiểm toán", xác lập "8 điều không được phép" gồm: (1) Để đơn vị được kiểm toán thu xếp chỗ ở; (2) Tiếp nhận bố trí bữa ăn, chiêu đãi; (3) Sử dụng phương tiện giao thông của đơn vị mà không trả tiền; (4) Tham gia du lịch, giải trí do đơn vị thu xếp; (5) Sử dụng phương tiện thông tin, vật phẩm của đơn vị mà không trả tiền; (6) Nhận quà biếu, tiền biếu, chứng khoán; (7) Nêu các yêu cầu không liên quan đến công tác kiểm toán; (8) Thanh toán các chi phí công hoặc tư tại đơn vị được kiểm toán.
4. Hệ thống tiêu chí hoàn thiện pháp luật về kiểm toán nhà nước gồm những nội dung gì?
Hệ thống tiêu chí hoàn thiện pháp luật về KTNN gồm 3 nhóm:
- Tiêu chí về nội dung: Phù hợp đường lối của Đảng, điều kiện kinh tế - xã hội, nguyên tắc Nhà nước pháp quyền XHCN và chuẩn mực INTOSAI;
- Tiêu chí về hình thức: Tính toàn diện, tính thống nhất, tính đồng bộ, tính minh bạch - hiệu quả - khả thi, hình thức văn bản và kỹ thuật lập pháp;
- Tiêu chí về tổ chức thực hiện: Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật, đào tạo chuẩn hóa đội ngũ kiểm toán viên, kiểm tra giám sát và xử lý vi phạm pháp luật.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đặng Văn Hải là công trình khoa học chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật kiểm toán nhà nước tại Việt Nam. Tác giả đã xác lập khung lý thuyết hoàn chỉnh về bản chất ngoại kiểm, nội dung điều chỉnh, bộ tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện và điều kiện bảo đảm của pháp luật kiểm toán nhà nước. Trên cơ sở khảo cứu lịch sử lập pháp và kinh nghiệm quốc tế, luận án đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ việc hiến định địa vị pháp lý của KTNN trong Hiến pháp đến sửa đổi toàn diện Luật Kiểm toán nhà nước và các đạo luật liên quan, đáp ứng yêu cầu kiểm soát quyền lực tài chính công trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.