Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Nguồn gốc và phân loại cây hoa Lily Nguồn gốc: Hoa Lily đã được phát hiện từ thời kỳ Midle Minoan IIA-B (khoảng 1750 - 1675 trước Công nguyên), khi những lọ hoa và các bức họa của người dân đảo Crete đã minh họa vẻ đẹp, màu trang tinh khiết và hương thơm tao nhã của loài hoa này (Woodcock and Stearn, 1950). Hầu hết các loài hoa lily được phân bố ở vùng Himalaya và được mở rộng tới các vùng núi ở Bắc bán cầu (De Jong, 1974) phân bồ từ 10° đến 609 vĩ độ Bắc. Phần lớn các giống hoa Lily thương mại, như ở Châu Á và Phương Đông đều có nguồn gốc từ Nhật Bản và Trung Quốc (Beattie and White, 1993). Trung Quốc là một trong những quốc gia có nhiều loài lily và rất nhiều loại đặc hữu với 47 giống và 18 biến chủng chiếm khoảng 1⁄2 giống trên thé giới.
Nhật Bản có 15 giống trong đó 9 giỗng đặc hữu. Hàn Quốc có 11 giống trong đó có 3 giống đặc hữu. Các nước châu Á khác như Mông Cổ, Ấn Độ, Mianma và châu Âu có 22 giống. Bắc Mỹ có 24 giống (Triệu Tường Vân, 2005).
Trước thé kỷ XIX ở châu Âu hoa Lily được sử dụng chủ yếu là loài nguyên sản. Đến thế kỷ XIX đã xuất hiện nhiều giống lai và đến thế kỷ XX nhờ kỹ thuật lai tạo và nhân giống hiện đại đã có hàng nghìn giống Lily lai ra đời (Veli-Pekka, 2005). Cuối thé kỷ XIX hoa Lily vua của Trung Quốc (L.regale) truyền vào châu Âu được dùng làm bố me để lai tạo và tao ra rất nhiều giống mới hoa Lily (Triệu Tường Vân, 2005). Tại Việt Nam được ghi nhận có hai loài hoang dại được kê đến là bach hợp (L.E Brow war oldiseteriwils) và loài Lilium Poilanei, mọc hoang đại trên các đồi cỏ Bắc Kan, Thai Nguyên, Cao Bằng, Lang Sơn có vay củ thân được sử dụng làm thuốc.
Phân loại: Trong hệ thống phân loại thực vật, cây hoa Lily phố biến có tên khoa học (Lilium candidum L.) thuộc nhóm một lá mầm (Monocotyendones) phân lớp hành (Lilidae), bộ hành (Liliales), họ hành (Liliaceae), chi (Lilium). Đây là một trong những họ thực vật lớn gồm 200 chi với hơn 3. Do có vẻ đẹp, mùi hương đặc trưng riêng và giá trị kinh tế cao nên hoa Lily nhanh chóng được phát triển ở nhiều nước trên thế giới như là Hà Lan, Italia, Canada, Úc, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan.2 Đặc điểm thực vật học Hình 1.1 Cấu tạo của cây hoa Lily (Đặng Văn Đông va ctv,2015) Theo Đặng Văn Đông và ctv (2015), cây hoa Lily có các đặc điểm thực vật học như sau: 1.1 Rễ Ré của hoa Lily gồm hai phan rễ thân và rễ gốc. Phần rễ thân chiếm vai trò quan trọng đối với chất lượng cây hoa Lily.
Rễ thân còn được gọi là rễ trên, mọc từ phần thân ở dưới đất có nhiệm vụ nâng đỡ thân, có tuổi thọ là 1 năm. Rễ gốc hay còn gọi là rễ dưới, được mọc ra từ gốc thân vảy, có nhiều nhánh, sinh trưởng mạnh, chức năng chủ yếu là hút nước và chất dinh dưỡng có tuổi thọ tới 2 năm.2 Thân Thân vảy còn gọi là củ là phần phình to của thân bao gồm củ mẹ được cấu tạo từ các vảy, trên đĩa thân vảy còn có vài chục vảy hợp lại. Màu sắc và kích thước thân vảy thay đổi tùy theo loài và các giống khác nhau: mau trang, màu vàng, màu đỏ, màu cam, mau đỏ tím. Độ lớn của thân vảy tương quan chặt chẽ với số nụ hoa và thường được đo bằng chu vi, trọng lượng của chúng.
Ví dụ: giống có chu vi thân vảy là 12 — 14 em sẽ có từ 2 — 4 nụ, chu vi than vay là 14 — 16 em có trên 4 nụ. Thân dé trồng hoa thương phẩm nhất thiết phải là thân vay, thường năm đầu chưa ra hoa, sang năm thứ 2 có chu vi từ 12 cm trở lên mới ra hoa.23 Lá Lá có nhiều hình dang, như hình thuyền hoặc thuôn dài hoặc tròn dài. Lá không có cuống hoặc cuống ngắn. Kích thước lá phụ thuộc vào giống và điều kiện chăm sóc.
Trên lá có từ 1 —7 gân, gân giữa rõ ràng hon, lá mém có màu xanh bóng 1.4 Hoa và quả Hoa Lily có màu sắc rất đa dạng. Hoa mọc đơn lẻ hoặc cụm nhiều hoa thường có từ 1 — 6 hoa. Hoa dạng lưỡng tính gồm có 6 cánh, 6 nhị (bao gồm bao phan và chỉ nhụy) và | nhụy (bao gồm đầu nhụy, vòi nhụy và bầu nhụy). Quả dài 5 — 7 cm, bên trong có ba ngăn, mỗi quả có vài trăm hạt.
Hạt dẹt, xung quanh có cánh mỏng, hình bán câu hoặc tam góc.3 Yêu cầu ngoại cảnh của cây hoa Lily Theo Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc (2004), các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của hoa Lily gồm nhiệt độ, ánh sáng, ẩm độ, giá thé.1 Nhiệt độ Lily là loại cây chịu rét tốt, chịu nóng kém, ưa khí hậu mát am. Nhiệt độ thích hợp ban ngày là 20°C — 25°C, ban đêm là 15°C. Các giống lai phương Đông thời kì đầu thích hợp với nhiệt độ ban ngày là 25°C — 28°C, ban đêm là 18°C — 20°C. Nhiệt độ là yếu tô ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của Lily.
Quan trọng nhất là sự nảy mầm 5 của hạt, sự sinh trưởng và phát triển của lá. Dưới 12°C cây Lily sinh trưởng kém, bị rụng nụ, rụng hoa, hoa không phát triển được, không nở được. Nhiệt độ còn là yếu tố quan trọng dé điều tiết phân hóa và sự ra hoa. Ngoài ra nhiệt độ và ánh sáng còn ảnh hưởng đến sự phát triển củ, nhiệt độ thấp, thời gian chiếu sáng ngày đài củ sẽ to hơn.
Vì vậy vào mùa đông mỗi ngày cần tăng thêm 4 giờ chiếu sáng dé tăng tỉ lệ ra hoa, tuy nhiên cây sẽ bị thấp đi rõ rệt.2 Ánh sáng Lily là cây ngày dài, ưa cường độ ánh sáng trung bình. Cường độ ánh sáng thích hợp là 12.000 lux, chiếu sáng ngày dài hay ngày ngắn không chỉ ảnh hưởng đến phân hóa hoa mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của hoa. Am độ Âm độ thích hợp cho Lily nhất là 80% — 85%. Nếu âm độ lớn hơn sẽ dẫn đến tình trạng thối củ.
Đảm bảo duy trì lượng nước tưới cho cây để luôn đạt độ âm đất 60 — 65%, trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển, thời kỳ bắt đầu ra nụ hoa tránh tưới phun nước trực tiếp lên nụ hoa đề hạn chế cây bị rụng nụ. Hoa Lily rất mẫn cảm với hợp chat Clo, nên hạn chế dùng nước máy dé tưới.4 Giá thé Mun xơ dừa: là phế phẩm từ chế biến xơ dừa, khi vỏ dừa dược đập nát làm mat đi cấu trúc ban đầu và tách ra thành sợi nhỏ, những bột mịn phế liệu được gọi là mụn xơ dừa dùng làm giá thé. Thường ở mun xơ dừa có chứa một lượng Chloride (trên 700ppm) và hàm lượng Lignin ở mụn xơ dừa khoảng 58%. Do vậy, trước khi sử dụng người ta cũng ngâm nước dé mụn xơ dừa mat đi chất chát và muối, bên cạnh đó mụn xơ dừa có kha năng giữ nước và thoát nước tốt nên thường được dùng làm vật liệu phối trộn ở các hỗn hợp giá thé trồng cây.
Do hàm lượng Lignin ở mụn xơ dừa cao nên khả năng phân giải tự nhiên xảy ra rất chậm, mụn dừa có khả năng giữ được độ âm tốt, xốp, có độ thông thoáng, dé vận chuyền. Mun xơ đừa với sự bổ sung than bùn, phân chuồng và NPK đã góp phan nâng cao chất lượng cây giống, tăng tỉ lệ cây sống, cây mọc đều hơn, ít có hiện tượng sâu bệnh và phát triên tốt (Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv, 2004). Tro trâu: Tro trầu là phần thu được sau khi đốt vỏ trau từ hạt lúa. Tro trau có tính chat tơi xốp, có khả năng giữ nước và thoát nước tốt.
Theo nghiên cứu của FFTC (Food and Fertilizer Techology Center) thì tro trau có thê tiết kiệm được 17% lượng nước tưới (Huỳnh Thanh Hùng, 2008). Trong quá trình đốt tro trau, khoảng 70% chất hữu co dé bay hơi sẽ cháy và khoảng 25% còn lại chuyền thành tro. Ngoài ra, tro trâu còn chứa các chất khoáng rất tốt cho cây, trong đó hàm lượng kali khá lớn. Trong tro còn chứa các thành phan oxit và chúng có thé thay đồi tùy thuộc vào giống cây lúa, điều kiện khí hậu, đất đai của từng vùng miền.
Tro trâu ở dạng khô, tơi xốp, nhẹ, vận chuyên dé dang, có ưu thế về nguồn nguyên liệu và giá thành do đó có thể dùng trộn với các thành phần khác dé làm giá thé trồng cây (Huynh Thanh Hùng, 2008). Phân bò ủ hoai: Phân chuông là loại phân có nguồn gốc từ chat thai gia súc, gia cầm thải ra. Chất lượng của các loại phân này phụ thuộc rất nhiều vào cách chăm sóc nuôi dưỡng, chất liệu độn chuồng và cách ủ phân. Phần lớn phân chuồng do trang trại, nông dân tự sản xuất và các loại phân chuồng giống nhau là nước chiếm phan tram rất lớn so với các thành phần dinh dưỡng khác (Đường Hồng Dat, 2002).1 Thanh phần dinh dưỡng mụn xơ dừa, phân bò hoai mục, tro trâu khi phối trộn dùng trong thí nghiệm Chỉ tiêu Đơn vị Mụn xơ dita Tro trau Phan bo pH¡s (HO) - 6,9 6,1 6,0 EC\:5 mS/cm 0,5 1,0 12 Dung trong g/em?> 0,6 0,5 0,6 Ti trong g/cm? 1,3 1,5 1,2 Độ rỗng % 58,0 66,2 49,2 Âm độ % 18,2 18,4 19,4 Độ thoáng khí % 48,0 56,8 37,0 (Nguyễn Tan Phước, 2020) Từ kết quả Bang 1.1 cho thấy các vật liệu sử dụng dé phối trộn giá thé có pH từ 6,0 - 6,9 và EC từ 0,5 - 1,2 có phản ứng ít chua và không bị nhiễm mặn do các vật liệu gì này được xử ly bằng vôi và xả nước lại nhiều lần dé xử lý chát và giảm độ mặn.
Các vật liệu có độ xốp vừa (phân bò), xốp (mụn xơ dừa) đến rất xốp (tro trâu), âm độ của các vật liệu < 20% và độ thoáng khí < 57%. Theo kết quả đạt được của Nguyễn Tấn Phước (2020) tỉ lệ phối trộn giá thé tốt nhất cho hoa Lily là 1:1:1 (mun xơ dia: tro trấu: phân bò).4 Tình hình sản xuất hoa Lily trên thế giới và ở Việt Nam 1.1 Tình hình sản xuất hoa Lily trên thế giới Trên thế giới ngành công nghiệp hoa, cây cảnh đã và đang phát triển một cách rất mạnh mẽ, diện tích trồng hoa ngày càng được mở rộng và không ngừng tăng lên. Theo Hoang Ngọc Thuận (2007) sản xuất hoa Lily theo hướng cắt cành và trồng chậu đang nhanh chóng lan rộng trên toàn thế giới.