Chương 1: Những vấ n đề lý luâ ̣n về chế tài do vi phạm hơ ̣p đồ ng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 2: So sánh các chế tài vi pha ̣m hơ ̣p đồ ng theo pháp luâ ̣t Viê ̣t Nam và theo Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế Chương 3: Định hướng và kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng trong pháp luật Việt Nam. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHƢ̃ NG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG 1. Khái niệm và đặc điểm của chế tài do vi phạm hợp đồng 1. Khái niệm về chế tài do vi phạm hợp đồng 1.1 Khái niệm vi phạm hợp đồng Trong quá trình vận động và biến chuyển không ngừng của các quan hệ xã hội, mọi chủ thể tham gia luôn bị ràng buộc bởi những nghĩa vụ nhất định.
Tuy nhiên trong thực tế, không phải lúc nào nghĩa vụ cũng được thực hiện một cách nghiêm túc, hiệu quả theo nguyện vọng của các bên. Đơn cử, trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa, bên bán không chuyển giao tài sản, bên mua không trả tiền hay bên bán đã thiết lập một vật quyền phụ thuộc trên tài sản đem bán như tài sản đã được thế chấp tại ngân hàng để bảo đảm cho khoản vay khác. Tóm lại, vi phạm hợp đồng là hành vi có lỗi của một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng (non–performance) mà các bên đã thỏa thuận với nhau. Vi phạm hợp đồng có thể xảy ra đối với bất kỳ một nghĩa vụ nào và được thể hiện dưới các dạng như thực hiện chậm, thực hiện một phần hoặc không thực hiện toàn bộ.2 Chế tài do vi phạm hợp đồng Vi phạm hợp đồng của một bên có thể gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng.
Vì vậy, bên vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu hậu quả bất lợi là trách nhiệm dân sự – một loại trách nhiệm pháp lý [2]. Vấn đề xử lý vi phạm hợp đồng đã tồn tại khá sớm trong lịch sử lập pháp của Việt Nam. Nghiên cứu cổ luật Việt Nam cho thấy Bộ luật Hồng Đức có quy phạm về vấn đề này. Ví dụ, theo 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Điều 558, “mắc nợ quá hạn không trả thì phải tội trượng tùy theo việc nặng nhẹ.
Nếu lại cố bướng không chịu trả thì phải giáng hạ hai bậc, bồi thường gấp đôi”. Ở đây, nhà làm luật đã dự trù điều khoản để bắt các đương sự phải thi hành đúng các nghĩa vụ được cam kết. Trước thực trạng vi phạm hợp đồng xảy ra ngày càng nhiều và biến chuyển phức tạp hơn thì các bên lại càng chú trọng thiết lập các điều khoản xử lý vi phạm cũng như phương án giải quyết, tạo hành lang pháp lý hạn chế và loại trừ vi phạm. Như vậy, chế tài là hậu quả pháp lý bất lợi mà người có hành vi vi phạm phải gánh chịu.
Nó biểu hiện thái độ của Nhà nước và của người bị vi phạm đối với người vi phạm và là điều kiện đảm bảo cần thiết cho việc tuân thủ pháp luật, tuân thủ hợp đồng. Chế tài thương mại là hậu quả pháp lý bất lợi được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật thương mại khi họ không thực hiện hay thực hiện không đúng các nghĩa vụ phát sinh từ các hành vi thương mại. Theo Điều 292 LTM 2005, Các loại chế tài trong thương mại bao gồm: 1. Buộc thực hiện đúng hợp đồng.
Phạt vi phạm. Buộc bồi thường thiệt hại. Tạm ngừng thực hiện hợp đồng. Đình chỉ thực hiện hợp đồng.
Huỷ bỏ hợp đồng. Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các loại chế tài trong thương mại kể trên chỉ được áp dụng giữa các bên tham gia hợp đồng thương mại khi một bên vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Theo nghĩa này, chế tài thương mại là các chế tài được áp dụng khi có vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ việc thực hiện hành vi thương mại mà nhà làm luật gọi là “chế tài trong thương mại”.
Các chế tài này có thể là những chế tài do pháp luật quy định hoặc có thể là các chế tài do các bên thỏa thuận. Theo Điều 300 LTM 2005, bên vi phạm chỉ phải trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận. Điều này có nghĩa là nếu các bên có thỏa thuận về điều khoản phạt vi phạm trong hợp đồng thì khi có vi phạm, bên bị vi phạm mới có quyền yêu cầu bên vi phạm gánh chịu chế tài phạt. Ngược lại nếu không có thỏa thuận thì không được áp dụng chế tài này.
Còn các chế tài khác thì bên bị vi phạm hoàn toàn có quyền yêu cầu áp dụng theo quy định của pháp luật. Tóm lại, chế tài thương mại hầu hết là các chế tài hợp đồng. Bên bị vi phạm có quyền áp dụng đối với bên vi phạm khi bên vi phạm không thực hiện đúng hợp đồng đã giao kết. Vậy giữa trách nhiệm và chế tài có mối quan hệ như thế nào? Có quan điểm cho rằng không có sự thống nhất giữa BLDS 2005 và LTM 2005 vì BLDS 2005 sử dụng thuật ngữ “trách nhiệm dân sự” như “trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ giao vật” tại Điều 303, “trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc” tại Điều 304, “trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự” tại Điều 305, “trách nhiệm dân sự do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự” tại Điều 306, “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại” tại Điều 307.
Trong khi đó LTM 2005 lại sử dụng thuật ngữ “chế tài” như tại Điều 292 liệt kê “các loại chế tài trong thương mại”. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tác giả, “trách nhiệm dân sự” và “chế tài” là hai khái niệm pháp luật khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết, tương đồng với nhau về mặt nội dung, đó là đưa ra các biện pháp pháp lý phù hợp để bù đắp thiệt hại cho các bên. Khái niệm “trách nhiệm dân sự” có nội hàm rộng hơn và mang tính khái quát hơn khái niệm “chế tài” và “chế tài” là hình thức biểu hiện cụ thể của trách nhiệm pháp lý. Ví dụ: khoản 1 Điều 304 BLDS 2005 quy định về trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc: trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện một công việc mà mình phải thực hiện thì bên có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hoặc tự mình thực hiện hoặc giao cho người khác thực hiện công việc đó và yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.
Như vậy, trách nhiệm của người không thực hiện nghĩa vụ là phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi dưới hình thức bồi thường thiệt hại. Trong các giáo trình luật kinh tế của Khoa Luật – Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn trước đây cũng như giáo trình Luật kinh tế của Trường Đại học Luật Hà Nội khi nói về trách nhiệm tài sản hay trách nhiệm vật chất do vi phạm hợp đồng kinh tế cũng cho rằng phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại là các hình thức trách nhiệm tài sản [30], [33]. Điều 93 BLDS 2005 quy định pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân. Điều này được hiểu là, trong quá trình thực hiện hợp đồng thương mại, pháp nhân đều phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi về tài sản “chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình” do hành vi vi phạm các nghĩa vụ hợp đồng.
Trách nhiệm tài sản này có thể được thể hiện dưới hình thức phạt vi phạm hợp đồng hay bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như đã phân tích ở trên, thực chất tất cả các chế tài được quy định trong LTM 2005 đều tương ứng với quy định trách nhiệm dân sự của BLDS 2005. Sự khác nhau thể hiện ở cách trình bày và sắp xếp. LTM 2005 quy định các loại chế tài và cách thức áp dụng vào một chế định riêng, còn BLDS 2005 quy định lồng ghép trong các chế định liên quan đến thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
Đặt trong tương quan so sánh với Bộ Nguyên tắc UNIDROIT, không sử dụng thuật ngữ “chế tài” hay “trách nhiệm dân sự”. Điểm đặc trưng là “giải quyết các vấn đề mới và quan trọng đối với cộng đồng pháp lý và kinh tế quốc tế” [13, tr. 11], do vậy, Bộ Nguyên tắc UNIDROIT dành trọn Chương 7 để bàn về vấn đề “Không thực hiện hợp đồng” nhằm hướng tới các giải pháp mang tính nguyên tắc khi xử lý việc không thực hiện hợp đồng và không coi “chế tài” là hình phạt mà là biện pháp bù đắp thiệt hại do bị vi phạm. Như vậy, chế tài do vi phạm hợp đồng là hậu quả pháp lý bất lợi mà bên có hành vi vi phạm phải gánh chịu, trong pháp luật dân sự gọi đó là “trách nhiệm dân sự” hay “chế tài dân sự”, trong pháp luật thương mại gọi đó là “chế tài thương mại”.
Chế tài do vi phạm hợp đồng đươ ̣c coi là biê ̣n pháp xử lý hành vi vi phạm hợp đồ ng, là cách ứng xử của các bên tham gia hợp đồng đối với hành vi đi ngược lại các cam kết, thỏa thuận trước hoặc pháp luật có quy định. Đặc điểm của chế tài do vi phạm hợp đồng 1. Chế tài do vi phạm hợp đồng phát sinh khi có hành vi vi phạm hợp đồng Hợp đồng được hình thành là kết quả của quá trình thương thảo, thống nhất giữa các bên về những điều khoản có liên quan. Theo đó, các bên chấp nhận sự ràng buộc về mặt pháp lý từ sự tự nguyện giao kết của mình.
Hợp đồng có hiệu lực pháp luật trở thành “luật” điều chỉnh hành vi các bên trong 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quá trình thực hiện, là cơ sở phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên.