LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Giao lưu giữa các nước trên thế giới ngày càng mở rộng theo xu hướng khu vực hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới. Đặc biệt sự hình thành và phát triển của các tổ chức khu vực, liên khu vực và các công ty đa quốc gia trong mấy thập kỷ vừa qua đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới. Tình hình này khiến cho các quốc gia không thể chỉ bó hẹp hoạt động kinh tế của mình trong phạm vi quốc gia, mà còn phải tham gia vào các hoạt động kinh tế toàn cầu hoặc khu vực nhằm tận dụng mọi lợi thế so sánh.
Giao lưu quốc tế của các nước trên thế giới càng mở rộng và phức tạp thì càng cần thiết có pháp luật quốc tế thích hợp để điều chỉnh các mối quan hệ đó. Đồng thời pháp luật quốc gia cần được xem xét trong sự so sánh với pháp luật quốc tế để làm rõ các điểm tương đồng và khác biệt. Trên cơ sở đó các nước chủ động trong quá trình hội nhập. Hoạt động thương mại quốc tế hiện nay không còn bị giới hạn trong việc trao đổi hàng hóa mà được mở rộng sang cả các lĩnh vực khác như thương mại dịch vụ, thương mại đầu tư, thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ.
Hàng hóa được bán ra ở nhiều quốc gia với số lượng lớn hơn và chủng loại phong phú hơn. Nhưng khi khối lượng cũng như tính phức tạp của mua bán hàng hóa quốc tế tăng lên thì khả năng dẫn đến tranh chấp và hiểu lầm cũng theo đó mà tăng lên nếu như các hợp đồng mua bán hàng hóa không được soạn thảo một cách cụ thể. Công cụ pháp lý được sử dụng trong việc trao đổi hàng hóa chính là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Có thể nói rằng, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đã và đang đóng vai trò chủ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đạo trong hoạt động ngoại thương của Việt Nam.
Kim ngạch xuất nhập khẩu của nước ta không ngừng tăng cao trong những năm gần đây, và đặc biệt là sẽ được tăng cao hơn nữa khi Việt Nam đã là thành viên của tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Thực tiễn ký kết hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại ở Việt Nam trong thời gian vừa qua cho thấy rằng, hợp đồng được ký kết chủ yếu theo thói quen mà không theo kỹ năng pháp lý. Cũng chính vì vậy mà những vấn đề liên quan đến giá trị pháp lý của đề nghị giao kết hợp đồng (chào hàng) và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng không mấy được quan tâm. Trong khi đó, để một hợp đồng là một căn cứ pháp lý bảo vệ quyền lợi cho mình thì khâu giao kết hợp đồng dường như là quan trọng nhất.
Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam về vấn đề giao kết hợp đồng vẫn còn khá nhiều điểm chưa sát hợp với thực tiễn áp dụng. Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) trong một nỗ lực hướng tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Công ước này đã trở thành công ước được áp dụng rộng rãi nhất trong số các điều ước quốc tế đa phương về mua bán hàng hoá quốc tế với 66 quốc gia thành viên. Chính vì vậy, để góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề giao kết hợp đồng, tôi chọn đề tài “So sánh chế định giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật Việt Nam và theo Công ƣớc Viên 1980” để qua đó góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế theo chủ trương của Đảng.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mục đích nghiên cứu Xuất phát từ lý do trên, khi nghiên cứu đề tài “So sánh chế định giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật Việt Nam và theo Công ƣớc Viên 1980”, Luận văn có các mục đích sau: - Thứ nhất: Nghiên cứu cơ sở lý luận chung về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Qua đó thấy được tầm quan trọng của vấn đề giao kết hợp đồng liên quan tới lĩnh vực này, đồng thời làm rõ các yếu tố của việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. - Thứ hai: Phân tích và đánh giá các quy định của Công ước Viên 1980 – Công ước thống nhất các quy định về vấn đề hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trên toàn thế giới - về giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế trong sự so sánh với các quy định của pháp luật Việt Nam.
- Thứ ba: Kiến nghị một số phương hướng và giải pháp chính nhằm xây dựng và hoàn thiện về pháp luật hợp đồng nói chung và giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế nói riêng của pháp luật Việt Nam sau khi nghiên cứu Công ước Viên 1980. Phạm vi nghiên cứu Công ước Viên 1980 là Công ước quốc tế về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế do Uỷ ban Liên hợp quốc soạn thảo với rất nhiều quốc gia thành viên và được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Việt Nam mặc dù chưa phải là thành viên của Công ước này nhưng các doanh nghiệp Việt Nam vẫn có cơ hội áp dụng các quy định của Công ước khi tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá có tính chất quốc tế. Công ước quy định về mọi vấn đề liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế như đối tượng, chủ thể của hợp đồng, vấn đề giao kết hợp đồng, quyền và nghiã vụ của các bên trong hợp đồng, các vấn đề chế tài, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trách nhiệm của các bên, vấn đề bồi thường thiệt hại….Tuy nhiên do đề tài mà luận văn hướng đến là vấn đề về giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá theo Công ước Viên 1980 nên trong luận văn này chỉ nghiên cứu về vấn đề giao kết bao gồm: chào hàng, chấp nhận chào hàng và ký kết hợp đồng và một số vấn đề pháp lý khác liên quan trực tiếp.
Phƣơng pháp nghiên cứu Là một đề tài thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, cho nên trong luận văn này sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau. Bên cạnh những phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống và cổ điển như phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, luận còn dựa trên những phương pháp mang tính đặc thù như: phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp. - Phương pháp phân tích: Được thể hiện trong luận văn thông qua tập trung phân tích những quy định cụ thể trong Công ước Viên 1980, Bộ luật Dân sự, Luật thương mại về giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. - Phương pháp so sánh: được áp dụng thông qua việc so sánh những quy định của Công ước Viên 1980 với những quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
- Phương pháp tổng hợp: Từ những kết quả có được thông qua việc phân tích và so sánh những quy định của Công ước và một số hệ thống pháp luật khác, tác giả đã rút ra những kết luận mang tính chất khái quát, tổng hợp về thực trạng pháp luật Việt Nam và đưa ra những phương hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia sao cho phù hợp hơn với thông lệ quốc tế. Đặc biệt Luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh hai đối tượng so sánh với đối tượng thứ ba. Đối tượng thứ ba này không phải là đối tượng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính trong hoạt động so sánh, song có vai trò làm cho thấy rõ hơn đối tượng nào trong các đối tượng so sánh chính gần gũi hơn so với các chuẩn mực hiện hữu. Bố cục của Luận văn Luận văn này gồm có 3 chương, cụ thể là Chƣơng 1: Khái quát chung về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật Việt Nam và theo Công ước Viên năm 1980 Chƣơng 2: So sánh các nội dung cụ thể của Công ước Viên năm 1980 với pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Chƣơng 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THEO CÔNG ƢỚC VIÊN NĂM 1980 1.
Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Hợp đồng ở bất kỳ hệ thống pháp luật nào đều được quan niệm là sự thỏa thuận hay sự thống nhất ý chí làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ hợp đồng. Nói cách khác, các bên bị ràng buộc với nhau trong một quan hệ pháp luật do có một sự giao kết hợp đồng liên quan. Trong hoạt động ngoại thương, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế còn có những sự diễn giải khác nhau như hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài, hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hóa, hợp đồng mua bán ngoại thương. Nhưng tựu chung lại, dù gọi theo cách nào thì các thuật ngữ này đều biểu hiện một đặc điểm chung- Đó là hợp đồng có yếu tố nước ngoài, có nghĩa là làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài.
Khi nói tới hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là nói tới quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, mà thuật ngữ quan hệ dân sự ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả quan hệ dân sự, thương mại, lao động và hôn nhân gia đình.