mở đầu cho các quy định về hợp đồng dân sự. Bộ luật dân sự điều chỉnh giao kết hợp đồng qua việc quy định các nguyên tắc cơ bản của giao kết hợp đồng, những nội dung liên quan đến đề nghị giao kết và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, hình thức hợp đồng dân sự, nội dung hợp đồng dân sự, vấn đề hiệu lực 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của hợp đồng dân sự. Đó là các quy định này mang tính điều chỉnh chung cho các quan hệ hợp đồng trong giai đoạn giao kết. Ngoài ra, Bộ luật còn có quy định một số loại hợp đồng dân sự thông dụng làm cơ sở điều chỉnh pháp lý các quan hệ giao kết hợp đồng cho từng loại hợp đồng như hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng trao đổi tài sản, hợp đồng vay tài sản, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng mượn tài sản, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng vận chuyển, hợp đồng gia công, hợp đồng gửi giữ tài sản, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng uỷ quyền, hứa thưởng và thi có giải.
Tuy là những quy định cụ thể về một số loại hợp đồng thông dụng nhưng với vai trò của Bộ luật dân sự là luật gốc nên ngoài các quy định chung đó, tuỳ từng lĩnh vực và trường hợp cụ thể mà có sự áp dụng kết hợp với các luật chuyên ngành khác. Các luật chuyên ngành. Các luật chuyên ngành quy định việc giao kết hợp đồng trong từng lĩnh vực cụ thể dựa trên cơ sở luật gốc là Bộ luật dân sự. Ngày càng nhiều văn bản luật chuyên ngành trong mọi lĩnh vực cụ thể được ban hành thể hiện sự phong phú đa dạng của đời sống kinh tế - xã hội.
Mỗi lĩnh vực tương ứng với luật điều chỉnh riêng, có thể kể đến như Luật thương mại, một văn bản quan trọng liên quan đến chế định hợp đồng bên cạnh Bộ luật dân sự điều chỉnh quan hệ thương mại giữa các thương nhân. Ngoài ra, quá trình giao kết hợp đồng còn có thể chịu sự điều chỉnh của các luật chuyên ngành khác có liên quan đến lĩnh vực giao kết hợp đồng trong từng trường hợp cụ thể như Luật đầu tư năm 2005; Luật đất đai năm 2003; Luật doanh nghiệp năm 2005; Luật giao dịch điện tử năm 2005; Luật kinh doanh bảo hiểm 2000; Luật xây dựng; Luật nhà ở; Luật giao dịch bảo đảm; Luật chứng khoán; Luật đấu thầu…v. và toàn bộ hệ thống các văn bản dưới luật trong lĩnh vực có liên quan. Mối quan hệ giữa Bộ luật dân sự và các luật chuyên ngành.
Như phần trên đã trình bày, Bộ luật dân sự được coi là văn bản luật điều chỉnh chung nhất vấn đề hợp đồng, trong đó có giao kết hợp đồng. Giữa Bộ luật dân sự và các luật chuyên ngành có mối liên hệ gắn bó nhau thể hiện 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ở chỗ bổ sung cho nhau. Với vai trò là bộ luật gốc, chế định về giao kết hợp đồng trong Bộ luật dân sự năm 2005 đóng vai trò định hướng nguyên tắc trong việc điều chỉnh các quan hệ giao kết hợp đồng nói chung cũng như từng hợp đồng cụ thể cho phù hợp với đặc thù của loại hợp đồng dân sự đó. Tuy nhiên, sự áp dụng của Bộ luật dân sự mang tính linh hoạt mà không áp đặt hay loại trừ sự áp dụng của luật chuyên ngành, điều đó thể hiện ở việc luật chuyên ngành có quy định điều chỉnh về một trường hợp cụ thể thì phải áp dụng quy định của luật chuyên ngành đó.
Ngược lại, nếu luật chuyên ngành không có quy định thì áp dụng Bộ luật dân sự. Pháp luật điều tiết giao kết hợp đồng theo pháp luật Hoa Kỳ. Tuyển tập về luật hợp đồng (Restatements of contracts). Thế kỷ thứ 19 được coi là thời điểm phát triển các học thuyết, tư tưởng và hệ thống hoá các quy định của luật hợp đồng ở Hoa Kỳ.
Sự phát triển này thể hiện ở các chuyên luận và các bộ tuyển tập các án lệ về hợp đồng (restatement of contracts). Tuyển tập luật hợp đồng là một trong những công trình của Viện nghiên cứu luật Hoa Kỳ thể hiện sự cố gắng trình bày chính xác những quyết định của Toà án có độ dung hoà cao nhất và có thể được áp dụng bởi các toá án của các bang của Hoa Kỳ [ 17, tr. Tuyển tập quan tâm nhiều đến các nguyên tắc cơ bản trong giao kết hợp đồng cũng như vấn đề hiệu lực của hợp đồng. Tuyển tập hợp đồng đầu tiên được hoàn thành vào năm 1932.
Năm 1981, tuyển tập hợp đồng lần thứ hai được xuất bản với một số thay đổi và bổ sung so với tuyển tập năm 1932, đặc biệt là việc bổ sung những ngoại lệ của chế định nghĩa vụ đề bù (consideration), hạn chế rút lại lời hứa. Nhìn chung, tuyển tập lần hai có nhiều đối mới và được quy định chi tiết hơn so với tuyền tập lần đầu [19, p 55]. Những nội dung chính liên quan đến giao kết hợp đồng được thể hiện trong tuyển tập như chế định về lời hứa, đề nghị và chấp nhận đề nghị, hiệu lực của hợp đồng. tuy không mang giá trị như các quy định của pháp luật thành văn tại các nước theo hệ thống dân luật nhưng lại có thể được 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trích dẫn trong các quy định của toà án, là cơ sở để tìm ra những quyết định quan trọng trong những vụ việc tương tự.
Bộ luật thƣơng mại chuẩn thống nhất Hoa Kỳ. Bộ luật thương mại chuẩn thống nhất Hoa Kỳ là tuyển tập các án lệ điều chỉnh những vấn đề liên quan đến hoạt động thương mại, mua bán và cho thuê hàng hoá. Bộ luật có nguồn gốc từ luật thương nhân, sau đó được phát triển dựa trên cơ sở các án lệ liên quan đến hoạt động thương mại. Vấn đề giao kết hợp đồng trong lĩnh vực thương mại được quy định cụ thể trong Bộ luật với những điểm kế thừa quan điểm truyền thống của thông luật và ghi nhận những điểm mới cho phù hợp với điều kiện giao dịch thương mại hiện đại.
Bộ luật là sản phẩm của Viện nghiên cứu luật Hoa Kỳ có vai trò kham thảo và là bộ luật mẫu cho các bang, ngoại trừ bang Louisiana, nơi chịu ảnh hưởng của luật dân sự Pháp nên chỉ chấp nhận một phần của Bộ luật không liên quan đến mua hán hàng hoá. Các bang dựa vào Bộ luật này ban hành cho mình đạo luật riêng. Vì vậy, tuy mỗi bang có đạo luật riêng về hợp đồng nhưng về cơ bản các đạo luật đó có nhiều điểm tương đồng về điều chỉnh giao kết hợp đồng nói riêng, các vấn đề giao dịch thương mại nói chung. Bộ luật chia thành 11 điều, trong đó tập trung về điều chỉnh giao kết hợp đồng tại Điều 1 (những quy định chung) và Điều 2 (mua bán hàng hoá).
Ngoài các công trình luật nói trên, Hoa Kỳ có còn một số văn bản luật thực định chuyên về một số lĩnh vực do Quốc hội Mỹ ban hành như Luật Magnjewsson Moss ( luật về các bảo đảm và thẩm quyền của ban thương mại Hoa Kỳ); Luật chống lừa đảo (Statute of frauds), Luật thống nhất về giao dịch thông tin trên máy tính (UCITA), Luật thống nhất về giao dịch điện tử (UETA), Luật chữ ký điện tử trong thương mại quốc gia và quốc tế (E – Sign), Luật bảo hộ tín dụng tiêu dùng, Luật an toàn hàng hoá tiêu dùng; Luật nghĩa vụ đóng bao bì bảo đảm tránh sự thâm nhập của chất độc hại; Luật cấm dùng các chất gây hại sức khoẻ con người…. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 Qua phân tích, so sánh những vấn đề chung về giao kết hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ có thể rút ra được những điểm chính sau đây: 1. Khái niệm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ đều có chung bản chất là sự thoả thuận giữa các bên tham gia giao kết hợp đồng. Nhưng pháp luật Việt Nam sử dụng thuật ngữ “hợp đồng dân sự” để nói về khái niệm hợp đồng trong khi pháp luật Hoa Kỳ cũng như nhiều nước khác chỉ sử dụng thuật ngữ hợp đồng (contract).
Chế định giao kết hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ đều điều chỉnh tập trung vào những vấn đề liên quan đến đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, hiệu lực của hợp đồng. Nếu như pháp luật Việt Nam điều chỉnh giao kết hợp đồng bằng các nguồn pháp luật thành văn của cơ quan lập pháp, hành pháp thì pháp luật Hoa Kỳ điều chỉnh giao kết hợp đồng chủ yếu bằng các nguồn án lệ của toà án. Các quy phạm pháp luật thành văn chỉ đóng vai trò thứ yếu và điều chỉnh trong một số lĩnh vực nhất định. Hệ thống pháp luật Việt Nam là pháp luật thống nhất của một quốc gia khác với pháp luật Hoa Kỳ có sự phân biệt giữa pháp luật liên bang và tiểu bang.
Tại Hoa Kỳ, lĩnh vực pháp luật hợp đồng mang tính tiểu bang hơn là liên bang. Pháp luật điều chỉnh giao kết hợp đồng theo pháp luật Việt Nam thể hiện mối liên hệ giữa luật chung và luật chuyên ngành cũng như luật chuyên biệt còn pháp luật Hoa Kỳ điều chỉnh giao kết hợp đồng thể hiện mới liên hệ giữa pháp luật liên bang và tiểu bang, giữa pháp luật thành văn và án lệ. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 2 - THOẢ THUẬN VÀ CÁC THÀNH TỐ CỦA THOẢ THUẬN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT HOA KỲ 2. Khái niệm về sự thoả thuận theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ.
Thuật ngữ thoả thuận theo nghĩa rộng được hiểu là bất kỳ sự đồng ý của hai hay nhiều chủ thể cho dù có hay không hậu quả pháp lý. Ở đây, tác giả chỉ nói tới khái niệm thoả thuận mang tới hậu quả pháp lý và trong mối liên hệ với quan hệ hợp đồng. Như chương đầu của luận văn đã trình bày, thoả thuận vừa thể hiện bản chất của hợp đồng, vừa là yếu tố không thể thiếu trong hợp đồng. Thoả thuận thể hiện sự thống nhất trong việc bày tỏ ý chí của các bên, theo đó, nội dung của hợp đồng được hình thành [15, tr.
Thoả thuận vừa là kết quả, vừa là nội dung của sự thống nhất ý chí, sự gặp nhau về mặt tư tưởng giữa các chủ thể bình đẳng về mặt pháp lý. Mục đích của thoả thuận trong hợp đồng nhằm tạo lập hệ quả pháp lý theo đó xác định mỗi chủ thể trong thoả thuận có những quyền và nghĩa vụ nhất định [7, tr.