Chương 1: Khái quát chung về công ty cổ phần và người quản lý công ty cổ phần; Chương 2: Quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của người quản lý công ty cổ phần theo pháp luật các nước và kiến nghị. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ NGƯỜI QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Khái quát chung về công ty cổ phần 1. Sự ra đời của công ty cổ phần Xuất phát từ sự phát triển của nền kinh tế thị trường trong quá trình công nghiệp hóa vào những năm cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII, nhu cầu tích tụ vốn đầu tư của các nhà tư bản được thúc đẩy một cách mạnh mẽ.
Từ đây dẫn đến sự hình thành loại hình doanh nghiệp công ty cổ phần tại châu Âu, bắt đầu tại Anh, sau đó đến Hà Lan, Thụy Điển và Đan Mạch. Đến cuối thế kỷ XVIII, cuộc Cách mạng Công nghiệp bùng nổ làm thay đổi toàn diện hình thái kinh tế – xã hội. Từ đây, chủ nghĩa tư bản lên ngôi nắm giữ vị trí thống lĩnh, mang lại sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường. Nhận thấy thực trạng này, các chủ tư bản đi đến thỏa hiệp chung tay hợp tác tập trung vốn, trước là để tiếp tục tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm thu về lợi nhuận tối đa, sau là để củng cố hơn nữa thế lực kinh tế của mình.
Nhờ đây, loại hình doanh nghiệp công ty cổ phần ngày càng được ứng dụng rộng rãi3. Thế kỷ XIX đến với những bước tiến vượt bậc của khoa học, kỹ thuật tiếp tục phát triển tạo nên tiền đề vững chắc cho cú chuyển mình mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu. Nhu cầu cấp thiết trong việc tập trung nguồn vốn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội cũng vì thế mà gia tăng. Công ty cổ phần vẫn là một trong những công cụ hữu hiệu nhất giúp các doanh nghiệp thực hiện nhanh chóng quá trình tập trung vốn4.
Đến những năm đầu thế kỷ XX, công ty cổ phần trở thành hình thức kinh doanh phổ biến tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước có nền kinh tế thị trường phát triển nổi bật như Hoa Kỳ và Đức5. 4 Phillip Lipton (2016), “The Evolution of the Joint Stock Company to 1800: An Institutional Perspective”, Monash U. Department of Business Law & Taxation Research Paper, (19), pp. 5 Caroline Fohlin (2005), “The History of Corporate Ownership and Control in Germany”, University of Chicago Press, pp.
9 Tại Việt Nam, sau ngày thống nhất đất nước 30 tháng 4 năm 1975, công cuộc nỗ lực khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh nhanh chóng đạt được những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế do tác động nặng nề mà chiến tranh để lại. Nắm bắt được tình hình này, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp vào tháng 12 năm 1986 đã đề ra phương hướng mới cho nền kinh tế Việt Nam. Theo đó, Việt Nam sẽ chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Sự kiện này là cột mốc quan trọng làm thay đổi một cách toàn diện và sâu sắc nền kinh tế nước ta trên mọi phương diện, từ cơ cấu, thành phần kinh tế, đến quan hệ sở hữu. Từ đây, xuất hiện nhiều hình thức tổ chức kinh tế mới, trong đó có là loại hình doanh nghiệp công ty cổ phần. Đặc điểm của công ty cổ phần Ngày nay, mặc dù có thể có những khác biệt nhỏ về tên gọi hay số lượng thành viên của công ty cổ phần, nhưng những đặc điểm cơ bản của loại hình doanh nghiệp này được hiểu tương đối thống nhất trên thế giới6. Đó là các đặc điểm sau: Thứ nhất, công ty cổ phần là pháp nhân.
Có thể hiểu, pháp nhân là một tổ chức được tạo ra, được pháp luật thừa nhận và được pháp luật trao cho các quyền và nghĩa vụ pháp lý. Dựa vào đây, công ty cổ phần mang đặc điểm của một pháp nhân là (i) sở hữu tài sản riêng biệt; (ii) có tên riêng7; (iii) được nhân danh chính mình khi tham gia vào các giao dịch thương mại và quan hệ pháp luật. Thứ hai, công ty cổ phần chịu trách nhiệm hữu hạn. Công ty chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ phát sinh từ tài sản của công ty như các khoản nợ hoặc nghĩa vụ tài chính bằng tất cả tài sản của công ty.
Trong khi đó, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về khoản nợ trong phạm vi phần vốn góp vào công ty của cổ đông. Khi công ty không còn tài sản để thanh toán các khoản nợ, các cổ đông không có nghĩa vụ trả số nợ còn lại và chủ nợ cũng không có quyền đòi nợ từ các cổ đông. 6 Jonathan Charkham, Anne Simpson (1999), “Fair Shares: The Future of Shareholder Power and Responsibility”, Oxford University Press, pp. 7 Tên của công ty cổ phần không được bao gồm tên riêng của thành viên trong công ty.
Vì đặc điểm này nên công ty cổ phần còn được gọi là công ty vô danh (anonymous company) ở một số quốc gia như Pháp và Maroc. 10 Thứ ba, vốn điều lệ của công ty cổ phần phải là số vốn thực góp của các cổ đông. Những phần bằng nhau được chia từ vốn điều lệ của công ty chính là cổ phần, được tự do chuyển nhượng trừ khi pháp luật hay điều lệ công ty có quy định khác. Thứ tư, việc quản lý và vận hành công ty cổ phần không chỉ giới hạn bởi cổ đông mà còn có sự tham gia của các thành viên khác giữ chức danh quản lý trong công ty.
Các cổ đông khi tham gia quản lý công ty thường dưới tư cách là thành viên của Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc tư cách quản lý khác. Thứ năm, số lượng cổ đông của công ty cổ phần không giới hạn số lượng tối đa, nhưng có giới hạn số lượng tối thiểu. Thứ sáu, công ty cổ phần được huy động vốn dưới nhiều hình thức như chào bán cổ phần riêng lẻ, phát hành trái phiếu, phát hành chứng khoán, bán cổ phần trong nội bộ công ty, … theo quy định pháp luật. Mô hình quản trị công ty cổ phần Cấu trúc quản trị nội bộ của các công ty cổ phần trên thế giới thường theo một trong hai mô hình sau đây: “(i) mô hình hội đồng đơn – hay còn gọi là hội đồng một tầng (unitary board/ one-tier board model), và (ii) mô hình hội đồng kép – hay còn gọi là hội đồng hai tầng (dual board/ two-tier board model)8.” Mô hình hội đồng đơn là hình thức phổ biến ở các quốc gia thuộc hệ thống Thông luật.
Mô hình này chỉ gồm một Hội đồng quản trị duy nhất là Hội đồng Giám đốc (Board of Directors). Hội đồng Giám đốc gồm các Giám đốc (Directors). Các thành viên của Hội đồng Giám đốc “có trách nhiệm quản lý hoạt động hàng ngày của công ty, tham gia quyết định những vấn đề quan trọng của công ty thuộc thẩm quyền của mình9.” Mô hình hội đồng kép phổ biến ở các nước theo hệ thống Dân luật. Mô hình này gồm có Hội đồng giám sát (Supervisory board) và Ban quản trị (Management 6 Bùi Xuân Hải (2006), “So sánh cấu trúc quản trị nội bộ của công ty cổ phần Việt Nam với các mô hình điển hình trên thế giới”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (6).
9 Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung (2006), Công ty: vốn, quản lý và tranh chấp, NXB Tri Thức, tr. Trong đó, Hội đồng giám sát do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, song người lao động cũng có quyền bầu thành viên Hội đồng giám sát, số lượng thành viên Hội đồng giám sát được bầu ra tùy thuộc vào quy mô người lao động của công ty. Hội đồng giám sát tham gia trực tiếp vào việc đưa ra quyết định quan trọng trong quản trị công ty. Các thành viên của Ban quản trị do Hội đồng giám sát bầu chọn.
Ban quản trị thực hiện chức năng điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty10. Cấu trúc quản trị nội bộ của công ty cổ phần ở Việt Nam, xét một cách toàn diện, không phải là cấu trúc hội đồng một tầng theo mô hình của Thông luật, cũng chẳng phải cấu trúc hai tầng như mô hình của Dân luật. Nó có vẻ là cấu trúc mang tính pha trộn (hybrid model) giữa hai mô hình nói trên11. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, công ty cổ phần phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.
Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát12. Khái quát chung về người quản lý công ty cổ phần 1. Mối quan hệ giữa người quản lý công ty cổ phần và công ty cổ phần Quan hệ giữa người quản lý công ty và công ty được hiểu theo hai học thuyết nổi tiếng lần lượt là học thuyết đại diện (agency theory) và học thuyết quản gia (stewardship theory)13. Theo học thuyết đại diện, mối quan hệ giữa người quản lý công ty và công ty là quan hệ đại diện.
Trong đó, mọi công việc quản lý mà người quản lý được giao thực hiện sẽ hình thành dựa trên sự ủy quyền của các cổ đông. Những công việc đó có thể bao gồm cả việc trao cho người quản lý thẩm quyền định đoạt tài sản công ty. 10 Theodor Baums (2005), “Personal Liabilities of Company Directors in German Law”, Universitätsbibliothek Johann Christian Senckenberg, pp. 11 Bùi Xuân Hải (2006), “So sánh cấu trúc quản trị nội bộ của công ty cổ phần Việt Nam với các mô hình điển hình trên thế giới”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (6/2006).
12 Điều 137 Luật Doanh nghiệp 2020. 13 Tạm dịch từ Jame SH. David Schoorman & Lex Donaldson (1997), “Towards Stewardship Theory of Management”, Academy of Management Review, (1), pp. 12 Vì là quan hệ đại diện, người quản lý sau khi được ủy quyền có thể tiến hành các công việc trong công ty thay mặt cho các cổ đông.
Với vai trò là người quản lý của công ty, những nhiệm vụ mà chủ thể này phải thực hiện không đơn thuần chỉ là những công việc mà bất kỳ nhân viên cấp dưới nào đều có thể tiếp cận và tiến hành. Mọi hành vi mà chủ thể này thực hiện sẽ gây ra tác động lớn và trực tiếp đến công ty.