Tổng quan nghiên cứu

Kho tàng văn học dân gian Việt Nam là di sản tinh thần vô giá, trong đó ca dao cổ truyền giữ vai trò cốt lõi phản ánh tâm hồn và đời sống lao động của người bình dân. Đề tài so sánh ca dao cổ truyền của người Việt ở Thái Bình và Nghệ Tĩnh là công trình luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số 80 22 01 21, do tác giả Đỗ Thị Thúy thực hiện năm 2022 dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Xuân Kính tại Trường Đại học Khoa học thuộc Đại học Thái Nguyên.

Vấn đề nghiên cứu bắt nguồn từ khoảng trống thực tế trong giới học thuật: trước năm 2022, nhiều công trình đã khảo sát riêng lẻ như bài nghiên cứu năm 1991 của Nguyễn Xuân Kính về ca dao Thái Bình, hoặc cuốn sách dày 250 trang xuất bản năm 2011 của Nguyễn Phương Châm so sánh ca dao xứ Nghệ với xứ Bắc nói chung, nhưng chưa từng có công trình nào đối chiếu trực diện giữa Thái Bình và Nghệ Tĩnh. Luận văn hướng tới mục tiêu phân tích toàn diện những điểm tương đồng và dị biệt trên hai phương diện nội dung phản ánh và nghệ thuật biểu hiện, đồng thời lý giải căn nguyên sinh thái, lịch sử và văn hóa tạo nên các đặc điểm này.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào ca dao cổ truyền lưu hành trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 tại địa bàn tỉnh Thái Bình và hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh. Dữ liệu khảo sát bao gồm 438 lời ca dao Thái Bình và 2571 lời ca dao Nghệ Tĩnh, cho thấy quy mô văn bản sưu tầm của xứ Nghệ gấp khoảng 5,86 lần vùng quê lúa. Việc khảo sát 3009 đơn vị tác phẩm mang ý nghĩa khoa học sâu sắc, vừa khẳng định tính thống nhất trong sự đa dạng của văn hóa Việt Nam, vừa đóng góp nguồn học liệu định lượng giá trị cho công tác giảng dạy văn học địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết vùng văn hóa và tiểu vùng văn hóa, kế thừa hệ thống phân vùng của các học giả hàng đầu như mô hình 6 vùng văn hóa lớn của Chu Xuân Diên và 9 vùng văn hóa lớn của Đinh Gia Khánh. Luận văn xác định Thái Bình thuộc tiểu vùng châu thổ đồng bằng Bắc Bộ, còn Nghệ Tĩnh là tiểu vùng trọng yếu của dải đồng bằng ven biển miền Trung.

Bên cạnh đó, tác giả phân biệt rõ ràng giữa bộ môn văn học so sánh ra đời cuối thế kỷ XIX ở phương Tây với phương pháp so sánh trong nội bộ nền văn học dân tộc. Phương pháp so sánh nội bộ được vận dụng nhằm tìm kiếm quy luật tương đồng và nét dị biệt giữa các tiểu vùng văn hóa cùng một dân tộc, tuyệt đối không mang định kiến về sự hơn kém giá trị. Ba khái niệm then chốt được định danh gồm: lời ca dao (cấu trúc nghệ thuật ngôn từ trọn vẹn, có nội dung thông báo độc lập theo quan niệm của Nguyễn Xuân Kính), ca dao cổ truyền (các tác phẩm định hình trước năm 1945), và văn hóa mưu sinh (phản ánh phương thức lao động nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp truyền thống).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được khai thác từ 2 công trình khảo cứu uy tín: cuốn Văn học dân gian Thái Bình (tập 1) do Phạm Đức Duật chủ biên xuất bản năm 1981 và tuyển tập Ca dao Nghệ Tĩnh trước Cách mạng tháng Tám 1945 do Nguyễn Đổng Chi cùng Ninh Viết Giao biên soạn xuất bản năm 1984. Khoảng cách ấn hành giữa 2 tài liệu chỉ là 3 năm, bảo đảm tính đồng nhất cao về phương pháp luận sưu tầm lịch sử.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm toàn bộ 3009 lời ca dao, trong đó Thái Bình chiếm 438 đơn vị và Nghệ Tĩnh chiếm 2571 đơn vị. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu toàn diện từ các xuất bản phẩm đã được giới chuyên môn thẩm định, đồng thời thực hiện thao tác giám định văn bản nghiêm ngặt nhằm loại trừ 100% các dữ liệu không thuộc thể loại ca dao như sấm ký, vè hay câu đối.

Lý do lựa chọn các phương pháp phân tích xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tính chính xác và khách quan cho công trình: Phương pháp thống kê định lượng được sử dụng nhằm đo lường tần suất xuất hiện của các chủ đề mưu sinh, gia đình, từ ngữ địa phương và điển tích Hán học, biến các cảm nhận định tính thành những con số có sức thuyết phục khoa học cao. Phương pháp phân tích tổng hợp giúp đi từ bóc tách từng chi tiết hình tượng, không gian thẩm mỹ đến khái quát diện mạo chung của hai tiểu vùng văn hóa. Phương pháp so sánh liên ngành kết hợp văn học với địa lý tự nhiên, sinh thái nhân văn và lịch sử xã hội để giải mã ngọn nguồn của các hiện tượng văn hóa. Tiến trình nghiên cứu được triển khai chặt chẽ và hoàn tất bảo vệ vào năm 2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về văn hóa mưu sinh nông nghiệp, ca dao xứ Nghệ có 99 lời phản ánh trực tiếp nghề nông trên tổng số 322 lời về văn hóa mưu sinh (chiếm 30,75%), trong khi ca dao Thái Bình có 14 lời về nghề nông trên tổng số 54 lời về cảnh vật và mưu sinh (chiếm 25,93%). Ca dao xứ Nghệ miêu tả trần trụi các thử thách sinh tồn như cảnh hạn hán kéo dài suốt 7 năm hay cảnh lũ quét cuốn trôi lúa vừa gặt, còn ca dao Thái Bình tập trung thể hiện tinh thần chịu thương chịu khó của người phụ nữ trên cánh đồng châu thổ màu mỡ.

Thứ hai, về đời sống gia đình và tình yêu lứa đôi, ca dao Thái Bình ghi nhận 104 lời phản ánh hôn nhân và gia đình (chiếm 23,74% kho tàng ca dao địa phương). Ca dao Nghệ Tĩnh có 385 lời về quan hệ gia đình (chiếm 14,97%) và 843 lời về tình yêu nam nữ (chiếm 32,79% trong tổng số 2571 lời). Cả hai vùng đều đề cao đức tính thủy chung, sự hòa thuận vợ chồng và tình mẫu tử thiêng liêng vượt lên trên sự thiếu thốn vật chất.

Thứ ba, về ngôn ngữ và tần suất vận dụng điển tích, trong 438 lời ca dao Thái Bình có 15 lời sử dụng từ ngữ địa phương (tỷ lệ 3,42%), trong khi ca dao Nghệ Tĩnh sở hữu mật độ phương ngữ dày đặc với các từ cổ đặc trưng như trèo truông, bứt cỏ, ngạp khoai. Ngược lại, ca dao quê lúa Thái Bình cứ 40 lời thì có 1 lời dùng điển tích Hán học (tỷ lệ 2,5%), cao hơn tỷ lệ ở ca dao Nghệ Tĩnh với 62 lời mới xuất hiện 1 lời dùng điển tích (tỷ lệ khoảng 1,61%).

Thứ tư, về các ngành nghề phụ, ca dao xứ Nghệ có 34 lời về nghề thủ công, Thái Bình có 10 lời ghi nhận các làng nghề danh tiếng như chạm bạc Đồng Xâm, dệt vải Phương La, rèn sắt Cao Dương. Cả hai địa phương đều có tỷ lệ phản ánh nghề buôn bán và đánh bắt thủy hải sản dưới mức 1%, thể hiện rõ quán tính tâm lý trọng nông ức thương của xã hội truyền thống.

Thảo luận kết quả

Căn nguyên của các hiện tượng tương đồng và dị biệt bắt nguồn từ sự chi phối của môi trường sinh thái tự nhiên và tiến trình lịch sử:

Về điều kiện tự nhiên, Thái Bình là vùng đồng bằng bồi tụ phù sa màu mỡ của sông Hồng và sông Trà Lý, địa hình bằng phẳng giúp nông nghiệp phát triển sớm; vào năm 1940, năng suất lúa tại đây đạt gần 3 tấn trên một hecta, cao nhất vùng đồng bằng sông Hồng. Do đó, ca dao Thái Bình mang nhịp điệu êm đềm, tươi sáng với cảnh hội làng tháng 4, tháng 7. Ngược lại, Nghệ Tĩnh có 2 phần 3 diện tích là rừng núi hiểm trở, đất đai khô cằn, chịu ảnh hưởng khắc nghiệt của gió Lào và bão lũ, buộc con người phải hình thành tính cách kiên cường, bộc trực, phản ánh trực diện vào ngôn từ nghệ thuật.

Về truyền thống lịch sử và khoa bảng, Thái Bình là đất phát tích vương triều Trần thế kỷ XIII và quê hương nhà bác học Lê Quý Đôn thế kỷ XVIII, đóng góp hơn 100 vị đỗ đại khoa trong tổng số gần 3000 tiến sĩ thời phong kiến. Trong khi đó, xứ Nghệ nổi danh với làng Quỳnh Đôi có hơn 700 người đỗ tú tài trở lên, giai đoạn từ đầu thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX chiếm hơn 1 phần 6 tổng số tiến sĩ cả nước, đồng thời là quê hương đại thi hào Nguyễn Du. Sự gắn kết giữa dòng văn học bác học và văn hóa truyền khẩu đã làm phong phú chiều sâu triết lý cho ca dao cả hai xứ sở.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua bảng tổng hợp đối sánh cơ cấu chủ đề giữa 438 lời của Thái Bình và 2571 lời của Nghệ Tĩnh. Đồng thời, một biểu đồ cột kép mô tả tỷ lệ phần trăm về việc sử dụng điển tích Hán học (2,5% so với 1,61%) và tỷ lệ đề tài canh nông (25,93% so với 30,75%) sẽ giúp người đọc nhận diện rõ nét sự phân hóa phong cách giữa hai tiểu vùng văn hóa.

So với các công trình đi trước, kết quả nghiên cứu đã củng cố vững chắc luận điểm của Nguyễn Xuân Kính năm 1991 và giải đáp câu hỏi của Nguyễn Phương Châm năm 2011 về lý do vùng văn hóa Nghệ Tĩnh bảo lưu nhiều yếu tố phương ngữ cổ xưa.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đẩy mạnh số hóa toàn diện tư liệu ca dao dân gian. Cơ quan chủ trì thực hiện là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hai tỉnh Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh phối hợp với các viện nghiên cứu chuyên ngành. Mục tiêu định lượng: hoàn thành số hóa 100% đối với 3009 lời ca dao cổ truyền và thu âm tối thiểu 200 bản diễn xướng nguyên bản từ các nghệ nhân dân gian trước tháng 12 năm 2027.

Thứ hai, tích hợp nội dung so sánh văn học dân gian liên vùng vào chương trình giáo dục địa phương. Chủ thể thực hiện là Sở Giáo dục và Đào tạo hai tỉnh cùng ban giám hiệu các trường phổ thông. Mục tiêu định lượng: biên soạn 10 bài giảng chuyên đề so sánh liên vùng và nâng tỷ lệ tiết thực hành di sản văn hóa lên mức 20% tổng thời lượng môn học địa phương trong giai đoạn 2026 - 2028.

Thứ ba, bảo tồn và phục dựng không gian diễn xướng dân gian truyền thống tại cơ sở. Chủ thể thực hiện là Phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện phối hợp với các câu lạc bộ nghệ nhân chèo Thái Bình và dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh. Mục tiêu định lượng: tổ chức liên hoan diễn xướng định kỳ 2 năm một lần, thu hút ít nhất 50 nghệ nhân cao tuổi và 300 thanh thiếu niên tham gia truyền dạy trực tiếp trong khung thời gian 2026 - 2030.

Thứ tư, phát triển các tour du lịch trải nghiệm di sản văn học gắn với làng nghề truyền thống. Chủ thể thực hiện là các doanh nghiệp lữ hành liên kết với chính quyền địa phương tại làng chạm bạc Đồng Xâm, làng dệt Phương La, làng nồi đất Trù Sơn và làng khoa bảng Quỳnh Đôi. Mục tiêu định lượng: xây dựng 3 tuyến du lịch chuyên đề khám phá không gian ca dao, nâng tỷ lệ tăng trưởng du khách trải nghiệm văn hóa truyền thống thêm 25% trước năm 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất: Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngữ văn, Văn hóa học, Việt Nam học tại hơn 20 trường đại học trên toàn quốc. Lợi ích cụ thể: Tiếp cận quy trình so sánh văn học định lượng mẫu mực dựa trên hệ thống 3009 đơn vị tư liệu đã qua kiểm định. Tình huống sử dụng: Vận dụng khung lý thuyết và phương pháp thống kê để triển khai các khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ và đề tài nghiên cứu văn học dân gian liên vùng.

Nhóm thứ hai: Giáo viên bộ môn Ngữ văn và cán bộ phụ trách chương trình giáo dục địa phương tại hơn 150 trường trung học phổ thông thuộc 3 tỉnh Thái Bình, Nghệ An và Hà Tĩnh. Lợi ích cụ thể: Khai thác kho ngữ liệu chuẩn xác gồm 438 lời ca dao Thái Bình và 2571 lời ca dao xứ Nghệ. Tình huống sử dụng: Thiết kế giáo án bài giảng văn học địa phương, xây dựng các hoạt động ngoại khóa tìm hiểu phong tục và truyền thống lịch sử quê hương.

Nhóm thứ ba: Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian và cán bộ quản lý di sản tại các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Lợi ích cụ thể: Nắm vững các luận cứ khoa học về sự tương đồng và dị biệt giữa các tiểu vùng văn hóa. Tình huống sử dụng: Xây dựng hồ sơ khoa học công nhận di sản văn hóa phi vật thể và hoạch định chính sách bảo tồn các làng nghề thủ công truyền thống.

Nhóm thứ tư: Đội ngũ biên kịch, người sáng tạo nội dung truyền thông và các đơn vị lữ hành du lịch văn hóa. Lợi ích cụ thể: Thấu hiểu hệ thống biểu tượng, ngôn ngữ tạo hình và chiều sâu tâm thức của người lao động xưa. Tình huống sử dụng: Xây dựng kịch bản phim tư liệu, sáng tác sản phẩm truyền thông văn hóa và thiết kế các tuyến du lịch trải nghiệm di sản dân gian.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Vì sao số lượng ca dao Nghệ Tĩnh lại gấp 5,86 lần so với ca dao Thái Bình trong luận văn? Trả lời: Sự khác biệt này bắt nguồn từ lịch sử sưu tầm thực địa. Nghệ Tĩnh được nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi sưu tầm từ trước năm 1945 và Ninh Viết Giao tiếp tục đẩy mạnh sau năm 1954, đạt 2571 lời. Trong khi đó, Thái Bình phát động sưu tầm muộn hơn vào năm 1975, xuất bản năm 1981 với 438 lời ca dao.

Câu hỏi 2: Ca dao hai tiểu vùng phản ánh sự khác nhau về văn hóa mưu sinh nông nghiệp như thế nào? Trả lời: Ca dao xứ Nghệ có 99 lời nghề nông miêu tả sự khắc nghiệt của thiên tai như hạn hán 7 năm và địa hình đồi núi hiểm trở. Ngược lại, ca dao Thái Bình có 14 lời nghề nông, chủ yếu làm nổi bật sự tần tảo, nhẫn nại của người phụ nữ trên cánh đồng bằng phẳng được bồi đắp bởi phù sa sông Hồng.

Câu hỏi 3: Tần suất sử dụng điển tích Hán học ở ca dao Thái Bình và Nghệ Tĩnh phản ánh điều gì? Trả lời: Ca dao Thái Bình có tỷ lệ dùng điển tích cao hơn, trung bình 40 lời có 1 lời (chiếm 2,5%), so với Nghệ Tĩnh là 62 lời có 1 lời (chiếm 1,61%). Điều này phản ánh truyền thống khoa bảng đồng bằng Bắc Bộ với hơn 100 vị đại khoa đã thẩm thấu sâu rộng vào đời sống sáng tác dân gian bình dân.

Câu hỏi 4: Vì sao nghề buôn bán chỉ chiếm tỷ lệ dưới 1% trong ca dao của cả hai địa phương? Trả lời: Nguyên nhân sâu xa là do tư tưởng phong kiến trọng nông ức thương ăn sâu vào tâm thức cộng đồng. Trong tổng số 3009 lời ca dao khảo sát, rất ít tác phẩm nhắc đến thương nghiệp, và nếu có thì chủ yếu mô tả phụ nữ buôn chuyến nhỏ lẻ hoặc làm hàng xáo lúc nông nhàn.

Câu hỏi 5: Luận văn đã chứng minh tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam ra sao? Trả lời: Qua việc phân tích 438 lời ca dao Thái Bình và 2571 lời ca dao Nghệ Tĩnh, luận văn chỉ ra sự thống nhất trong lòng yêu nước, đạo hiếu và sự thủy chung gia đình. Tính đa dạng thể hiện ở phương ngữ và cách ứng xử với điều kiện sinh thái, làm phong phú diện mạo văn hóa Việt Nam.

Kết luận

  • Khảo sát và xử lý khoa học hệ thống 3009 lời ca dao cổ truyền, tạo nên công trình đầu tiên so sánh chuyên sâu giữa hai tiểu vùng Thái Bình (438 lời) và Nghệ Tĩnh (2571 lời).
  • Chứng minh sự thống nhất bền vững về lòng yêu quê hương, đạo nghĩa vợ chồng thủy chung và tinh thần đấu tranh chống thói hư tật xấu với hơn 480 lời ca dao về gia đình ở cả hai vùng.
  • Làm sáng tỏ các dị biệt độc đáo về văn hóa mưu sinh, phương ngữ bản địa và tỷ lệ sử dụng điển tích Hán học (2,5% ở Thái Bình so với 1,61% ở Nghệ Tĩnh) do sự chi phối của hoàn cảnh tự nhiên và lịch sử.
  • Đề xuất lộ trình số hóa dữ liệu và đổi mới giáo dục địa phương trong giai đoạn 2026 - 2030, hướng tới mục tiêu nâng cao 20% thời lượng truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể tại các trường học.
  • Kêu gọi các cơ quan quản lý văn hóa và giới nghiên cứu tiếp tục mở rộng mô hình phân tích định lượng trên toàn bộ 6 vùng văn hóa lớn của đất nước, chung tay bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong kỷ nguyên hội nhập.