Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn của tác giả Hà Thị Thu Hương, chuyên ngành Văn học dân gian (mã số 62.01), được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2007 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Vũ Anh Tuấn và TS. Kiều Thu Hoạch, mang tiêu đề: Mối quan hệ văn hóa Tày – Việt dưới góc độ thẩm mỹ qua một số kiểu truyện kể dân gian cơ bản.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa đặt ra yêu cầu nhận thức sâu sắc về việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và văn hóa tộc người trước nguy cơ đồng dạng văn hóa. Nền văn hóa Việt Nam là một chỉnh thể thống nhất được hình thành từ 54 tộc người, trong đó tộc người Tày có dân số đông thứ hai sau người Kinh (Việt) và có mối quan hệ gắn bó mật thiết trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước.

Kho tàng văn học dân gian, đặc biệt là truyện kể dân gian của người Tày và người Việt, là nơi tích hợp các giá trị văn hóa truyền thống, thế giới quan và tri thức bản địa. Mặc dù đã có nhiều công trình khảo tả diện mạo văn hóa hoặc nghiên cứu văn học dân gian của từng tộc người riêng lẻ, mối quan hệ giao lưu và tiếp biến văn hóa hai chiều giữa tộc người chủ thể (Kinh/Việt) với tộc người thiểu số (Tày) dưới góc độ thẩm mỹ văn học dân gian vẫn là một khoảng trống học thuật chưa được khảo sát một cách hệ thống và chuyên sâu.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản luận án xác định mục tiêu và hệ thống nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu:

    1. Sử dụng truyện kể dân gian như một đối tượng thẩm mỹ để lý giải các mối quan hệ tương đồng, giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa hai tộc người Tày và Việt.
    2. Làm rõ quy luật phát triển của các yếu tố nội sinh và ngoại sinh qua quá trình tiếp xúc và hội tụ văn hóa, khẳng định bản sắc văn hóa Việt Nam "thống nhất trong đa dạng" trên cả trục thời gian và không gian văn hóa.
    3. Phác họa các nét tương đồng và dị biệt giữa văn hóa – văn học dân gian Tày và Việt, đồng thời lý giải nguyên nhân bằng các cứ liệu lịch sử, xã hội và văn hóa của hai tộc người.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:

    1. Đánh giá giá trị của các hình tượng thẩm mỹ trong truyện kể dân gian, đồng thời nghiên cứu truyện kể dân gian như một quá trình văn hóa nhằm lý giải mối quan hệ văn hóa Tày – Việt.
    2. Duy trì điểm nhìn chuyên biệt của ngữ văn học trong khi tôn trọng tính nguyên hợp của đối tượng nghiên cứu, kết hợp đồng bộ tri thức của văn hóa học, sử học và dân tộc học.
    3. Tiến hành nghiên cứu so sánh các mẫu kể tiêu biểu trong hệ thống truyện kể Tày và Việt ở các cấp độ: hệ thống đề tài, cấu trúc tác phẩm, nhân vật và motif.
    4. Phân tích, đối sánh cụ thể quá trình hình thành và chuyển hóa của các hình tượng nhân vật trung tâm qua ba kiểu truyện cơ bản:
      • Kiểu truyện về người anh hùng kiến tạo thế giới, kiến tạo vũ trụ.
      • Kiểu truyện về người anh hùng sáng tạo văn hóa.
      • Kiểu truyện về người anh hùng chiến trận chống giặc ngoại xâm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các kiểu truyện kể dân gian tiêu biểu của người Tày và người Việt có chứa đựng các yếu tố văn hóa truyền thống mang tính đồng hình hoặc thể hiện quá trình giao lưu, tiếp biến qua lại giữa hai tộc người.
  • Phạm vi thể loại: Luận án tập trung vào các kiểu truyện thuộc thể loại thần thoại và truyền thuyết (hoặc thần thoại chuyển hóa sang truyền thuyết theo ba phẩm chất: anh hùng hóa, lịch sử hóa, dân tộc hóa). Thể loại truyện cổ tích, truyện cười và truyện ngụ ngôn không thuộc phạm vi trọng tâm khảo sát của công trình này.
  • Phạm vi không gian và địa bàn: Vùng văn hóa thung lũng, miền núi Đông Bắc (nơi cư trú chủ yếu của người Tày như Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Kạn) và vùng văn hóa đồng bằng châu thổ sông Hồng của người Việt.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài qua các hướng tiếp cận chính:

Các hướng nghiên cứu trước trong văn bản

  • Hướng nghiên cứu đặt văn hóa các tộc người trong bối cảnh Đông Nam Á:

    • Trần Quốc Vượng và Cao Xuân Phổ (1972) với tham luận Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á.
    • Hà Văn Tấn (1976) với nghiên cứu về văn hóa Hòa Bình trong bối cảnh Việt Nam.
    • Phạm Đức Dương (1982) với chuyên luận Cội nguồn mô hình văn hoá - xã hội lúa nước của người Việt qua cứ liệu ngôn ngữ, giải mã tiếng Việt và mối quan hệ giữa nhóm Việt – Mường với Tày – Thái.
    • Nguyễn Từ Chi với định hướng nghiên cứu Đông Nam Á từ góc độ Việt Nam qua việc khảo cứu văn hóa Mường để soi sáng văn hóa Việt; phân chia 4 vùng cảnh quan văn hóa (đồng bằng châu thổ, thung lũng chân núi, duyên hải, hỏa canh Trường Sơn – Tây Nguyên); giả thuyết về sự hòa hợp tộc người và nguồn gốc nông nghiệp lúa nước chân núi dựa trên nhận định của Gorman.
  • Hướng nghiên cứu lịch sử văn hóa tộc người và quan hệ văn hóa Tày – Việt:

    • Thư tịch cổ: Nguyễn Trãi (thế kỷ XV) trong Dư địa chí; Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII) trong Kiến văn tiểu lục.
    • Giai đoạn trước năm 1945: A. Dignet khảo tả phong tục Tày, Nùng; Phan Kế Bính, Đào Duy Anh; Nguyễn Văn Huyên (giai đoạn 1936–1945 với gần 50 công trình nghiên cứu sử học, dân tộc học, điền dã ở Lạng Sơn – Cao Bằng và ghi nhận hiện tượng song ngữ Tày – Việt).
    • Giai đoạn sau năm 1945: Đặng Nghiêm Vạn, Phan Hữu Dật, Ngô Đức Thịnh, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Đăng Duy, Hoàng Nam, Nông Quốc Chấn, Nguyễn Chí Huyên; các chuyên luận tập thể như Văn hoá dân gian Tày (1992), Một số vấn đề lịch sử văn hoá các dân tộc ở Việt Bắc, Văn hoá dân gian Cao Bằng, Các dân tộc Tày – Nùng ở Việt Nam, Đóng góp của các dân tộc nhóm ngữ Tày – Thái trong tiến trình lịch sử Việt Nam.
    • Hội thảo và chuyên khảo chuyên sâu: Phạm Văn Thành (1981) với bài viết về quan hệ giao lưu Tày – Việt; Trần Quốc Vượng (1993) với tham luận về sự giao thoa văn hóa Tày – Việt tại Cao Bằng; Đặng Thanh Phương (2003) với luận án tiến sĩ lịch sử về Tiếp xúc ngôn ngữ Tày - Việt (Kinh) ở vùng Đông Bắc Việt Nam.
  • Hướng nghiên cứu so sánh văn học dân gian Tày và Việt:

    • Chu Xuân Diên xác lập cơ sở lý luận về "căn bản văn hóa chung mang dấu ấn Việt Nam", cấu trúc đôi (binary structure) trong thần thoại vũ trụ Việt, Mường, Thái và chức năng văn hóa tộc người của văn học dân gian.
    • Thống kê của Vũ Anh Tuấn: Trước năm 1945 chỉ có 10/530 công trình viết về văn học dân gian miền núi (2 công trình về Tày); từ năm 1945 đến 1976 có 115/745 công trình viết về miền núi (9 công trình về Tày).
    • Vi Hồng (1979) với công trình Sli, lượn dân ca trữ tình Tày – Nùng.
    • Vũ Anh Tuấn (1981–1991) với loạt bài nghiên cứu truyện cổ Tày và luận án tiến sĩ Khảo sát cấu trúc và ý nghĩa một số típ truyện kể dân gian Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam (1991).
    • Đặng Nghiêm Vạn (1987) với công trình Huyền thoại về nạn hồng thuỷ và nguồn gốc tộc người.
    • Lê Chí Quế (1990) giới thiệu phương pháp loại hình học folklore tại Việt Nam.
    • Đinh Gia Khánh (1968) nghiên cứu so sánh truyện Tấm Cám; Nguyễn Đổng Chi (thập niên 1970) với Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam; Tăng Kim Ngân (1994) khảo cứu cấu tạo cốt truyện cổ tích thần kỳ; Nguyễn Thị Bích Hà (1998) nghiên cứu kiểu truyện Thạch Sanh và dũng sĩ; Nguyễn Thị Huế (2001) nghiên cứu nhân vật xấu xí mà tài ba; Nguyễn Tấn Đắc (2001) với chuyên luận Truyện kể dân gian đọc bằng type và motif.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước phần lớn khảo tả đơn lẻ văn hóa, ngôn ngữ hoặc từng thể loại văn học của một tộc người; nếu có so sánh thì chủ yếu nhằm làm tăng tính chuyên biệt của tộc người đó hoặc dừng ở góc độ dân tộc học thuần túy. Luận án của Hà Thị Thu Hương lựa chọn giải quyết khoảng trống: khảo sát so sánh đối chiếu hệ thống truyện kể dân gian Tày và Việt dưới góc độ thẩm mỹ văn học dân gian, phân tích theo type và motif trong mối quan hệ văn hóa tộc người và bối cảnh Đông Nam Á.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm

  1. Khái niệm tộc người và văn hóa tộc người:

    • Luận án kế thừa quan điểm của I.V. Bromlei (nhấn mạnh đặc trưng văn hóa là tiêu chí nhận diện tộc người), Phan Hữu Dật (ba tiêu chuẩn: cùng tiếng nói, cùng ý thức tự giác tộc người, yếu tố văn hóa thống nhất), Đặng Nghiêm Vạn (phân biệt giữa nation - dân tộc và ethnic - tộc người).
    • Tác giả định nghĩa: Tộc người là một chủ thể mang tính cộng đồng, sáng tạo nên ngôn ngữ và văn hóa mang đặc trưng của tộc người đó với ý thức tự giác tộc người.
    • Phân biệt hai khái niệm: "Văn hóa tộc người" (các giá trị hằng số, cốt lõi ban đầu của một tộc người) và "Văn hóa của tộc người" (các yếu tố văn hóa bao gồm cả truyền thống và yếu tố tiếp nhận từ bên ngoài qua giao lưu).
  2. Chức năng tộc người của văn hóa: Luận án xác định chức năng tộc người của văn hóa thể hiện qua 3 nhiệm vụ chính:

    • Bảo tồn: Giữ gìn bản sắc văn hóa tộc người nhằm chống lại nguy cơ bị áp đặt hoặc đồng hóa (người Tày bảo lưu qua then, lượn, sli, hội Lồng Tổng, mởi Nàng Hai; người Việt bảo lưu văn hóa chủ thể gắn kết quốc gia).
    • Chọn lọc: Tiếp nhận các yếu tố ngoại tộc để làm giàu văn hóa của mình (người Tày tiếp nhận chi tiết "yếm đỏ" trong truyện dạng Tấm Cám; người Việt tiếp nhận các biểu tượng rùa vàng, gà trắng, áo lông ngỗng từ văn hóa bản địa Tày).
    • Điều tiết: Cân bằng đời sống cộng đồng, vừa duy trì tính bền vững vừa giao lưu hội nhập, vận hành theo hai quá trình song song: "quốc gia hóa các giá trị văn hóa tộc người" và "tộc người hóa các giá trị văn hóa quốc gia".
  3. Tiến trình giao lưu, tiếp biến văn hóa Tày – Việt trong lịch sử:

    • Cơ tầng văn hóa nông nghiệp lúa nước chung thời kỳ Đông Sơn – Phùng Nguyên.
    • Hai thời điểm lịch sử then chốt: Thời kỳ hình thành nhà nước Âu Lạc với thủ lĩnh Thục Phán An Dương Vương; thời kỳ vương triều nhà Mạc đóng đô ở Cao Bằng (thế kỷ XVI–XVII) thúc đẩy việc Nho học hóa, chữ Nôm Tày hoàn thiện, âm nhạc cung đình hòa nhập vào then/bụt/giàng, thể thơ song thất lục bát.
    • Hiện tượng Nông Trí Cao là biểu tượng lịch sử - văn hóa chung của ba cộng đồng Choang – Tày – Nùng, vượt qua biên giới quốc gia và được tích hợp vào tín ngưỡng thờ thần của người Việt.
  4. Lý thuyết Folklore học về thể loại: Nhìn nhận truyện kể dân gian như một hệ thống mở có sự chuyển hóa từ thần thoại sang truyền thuyết qua ba phẩm chất: anh hùng hóa, lịch sử hóa và dân tộc hóa, kết hợp sự thâm nhập của các yếu tố cổ tích.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp nghiên cứu cơ bản: Phương pháp so sánh loại hình – lịch sử theo mối quan hệ văn hóa tộc người, kết hợp giữa hai góc độ ngữ văn học và dân tộc học.
  • Hệ thống phương pháp bổ trợ: Phương pháp thống kê, phân loại; phương pháp phân tích logic và phân tích lịch sử; phương pháp tổng hợp liên ngành.
  • Kỹ thuật phân tích: Đọc và giải mã tác phẩm tự sự dân gian dựa trên type (kiểu truyện) và motif (mô-típ), bóc tách các lớp trầm tích văn hóa (tầng nền, tầng trên, tầng thêm).

Nguồn tư liệu khảo sát

Tổng số truyện kể dân gian được thống kê và đưa vào diện khảo sát so sánh là 579 truyện, trích từ 11 tuyển tập truyện dân gian chính và các đợt điền dã thực tế:

Thành phần tư liệu Số lượng truyện Nguồn tuyển tập tiêu biểu
Truyện kể dân gian người Kinh (Việt) 378 Lĩnh Nam chích quái (Vũ Quỳnh - Kiều Phú), Lược khảo về thần thoại Việt Nam (Nguyễn Đổng Chi), Truyện hay nước Việt (Đinh Gia Khánh), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Nguyễn Đổng Chi), Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam (Viện Văn học).
Truyện kể dân gian người Tày 201 Truyện cổ Tày Nùng, Truyện cổ các dân tộc ít người Việt Nam, Truyện cổ Bắc Cạn, Truyện cổ Bắc Thái (Nàng tiên thứ bảy)...
Tư liệu điền dã thực địa - Tư liệu cá nhân tác giả thu thập tại các tỉnh Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu quan hệ văn hóa Tày - Việt qua truyện kể dân gian

Chương này xác lập nền tảng lý thuyết cho toàn bộ công trình:

  • Trình bày hệ thống khái niệm về tộc người, văn hóa tộc người và xác lập ba chức năng tộc người của văn hóa (bảo tồn, chọn lọc, điều tiết).
  • Phác họa tiến trình lịch sử tiếp xúc giữa người Tày và người Việt từ thời kỳ tiền sử (khối Tày – Thái cổ và Việt – Mường cổ) qua thời dựng nước Âu Lạc, giai đoạn nhà Mạc ở Cao Bằng thế kỷ XVI–XVII đến thời kỳ hiện đại.
  • Phân tích vai trò của văn học dân gian và loại hình truyện kể dân gian trong việc phản ánh bản sắc tộc người và lưu giữ ký ức văn hóa.
  • Xác định nguyên lý tiếp cận folklore học: khảo sát truyện kể trên trục liên kết chuyển hóa từ thần thoại sang truyền thuyết theo ba khuynh hướng dân tộc hóa, lịch sử hóa và anh hùng hóa.

Chương 2: Mối quan hệ văn hoá Tày – Việt qua khảo sát so sánh kiểu truyện người anh hùng kiến tạo thế giới, kiến tạo vũ trụ

Chương 2 tập trung khảo sát kiểu truyện giải thích nguồn gốc tự nhiên, vũ trụ và con người:

  • Tiếp cận hình thức cấu tạo cốt truyện: Khảo sát các mẫu kể về nguồn gốc vũ trụ, nạn hồng thủy và tái tạo loài người (như thần thoại Pú Lương Quân của người Tày, truyện Lạc Long Quân – Âu Cơ, thần thoại trụ trời của người Việt). Phân tích cấu trúc cốt truyện nhị nguyên, motif cấu trúc đôi (binary structure) bắt nguồn từ tư duy vũ trụ luận Đông Nam Á.
  • Tiếp cận theo motif: Khảo sát các motif người khổng lồ đào sông, đắp núi, motif quả bầu mẹ sinh ra các tộc người, motif chim và trứng.
  • So sánh văn hóa: Chỉ ra nét tương đồng trong nhận thức về sự hình thành thế giới và sự khác biệt về không gian thẩm mỹ: hình tượng kiến tạo vũ trụ của người Tày gắn liền với cảnh quan thung lũng, đồi núi đá vôi; trong khi hình tượng của người Việt gắn với châu thổ, sông nước và biển cả.

Chương 3: Mối quan hệ văn hoá Tày- Việt qua khảo sát so sánh kiểu truyện người anh hùng văn hoá

Chương 3 đi sâu vào các nhân vật có công phát minh, tạo dựng các giá trị vật chất và tinh thần cho cộng đồng:

  • Cơ sở lịch sử và dạng thức nhân vật: Phân tích sự chuyển tiếp từ thần thoại sang truyền thuyết nông nghiệp; phân loại các dạng thức nhân vật anh hùng văn hóa (nhân vật tìm ra lửa, giống lúa, nhân vật trị thủy, nhân vật dạy nghề và sáng tạo lễ hội).
  • Cấu tạo cốt truyện và motif đặc trưng: Đối sánh các truyện trị thủy, cải tạo đất đai và khai phá đồng ruộng giữa hai tộc người (như hình tượng Sơn Tinh của người Việt với các truyện kể về nhân vật khai hoang, đắp phai lấy nước của người Tày). Phân tích motif tìm kiếm ngũ cốc, thuần dưỡng cây lúa nước và các lễ hội gắn liền với chu kỳ nông nghiệp (hội Lồng Tổng, hội Mời Nàng Hai của người Tày tương ứng với các lễ nghi nông nghiệp của người Việt).
  • Dấu ấn văn hóa tộc người: Phân tích sự giao lưu hai chiều trong việc định hình các biểu tượng văn hóa nông nghiệp lúa nước thung lũng và lúa nước châu thổ.

Chương 4: Mối quan hệ văn hoá Tày – Việt qua khảo sát so sánh kiểu truyện người anh hùng chiến trận chống giặc ngoại xâm

Chương 4 khảo sát mảng truyền thuyết lịch sử phản ánh nhiệm vụ giữ nước và bảo vệ biên cương:

  • Sự vận động quy luật thể loại: Phân tích quá trình lịch sử hóa các mô-típ thần kỳ để hình thành kiểu truyện anh hùng chiến trận bảo vệ cộng đồng.
  • Kết cấu cốt truyện: Khảo sát kết cấu ba chặng tiêu biểu của truyện anh hùng chiến trận Tày và Việt: sự sinh nở thần kỳ -> lớn nhanh phi thường / nhận vũ khí thần kỳ -> lập chiến công đánh đuổi giặc ngoại xâm -> hóa thân bất tử hoặc để lại dấu tích thiêng.
  • Các motif đặc trưng và hình tượng tiêu biểu:
    • Đối sánh hình tượng Thánh Dóng, An Dương Vương (người Việt) với hình tượng Cẩu chúa cheng vua, Nông Trí Cao (người Tày).
    • Giải mã các biểu tượng văn hóa bản địa Tày trong truyền thuyết An Dương Vương – Mỵ Châu – Trọng Thủy: biểu tượng rùa vàng, gà trắng, áo lông ngỗng (tập tục đệm lông ngỗng vùng Lĩnh Nam), motif máu biến thành ngọc trai và motif hóa đá nổi trôi ngược dòng sông Cà Lồ mang dấu ấn của tín ngưỡng thờ đá cổ truyền.
    • Khẳng định khối liên minh chiến đấu bền vững giữa cư dân miền núi và miền xuôi trong lịch sử bảo vệ độc lập dân tộc.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về lý luận và khoa học

  1. Là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên khảo sát mối quan hệ văn hóa Tày – Việt dưới góc độ thẩm mỹ văn học dân gian, đặt trên nền tảng liên ngành giữa ngữ văn học, folklore học và dân tộc học.
  2. Vận dụng phương pháp nghiên cứu type và motif để bóc tách các tầng lớp văn hóa (tầng nền, tầng trên, tầng thêm), làm sáng tỏ quy luật tiếp biến văn hóa hai chiều giữa tộc người chủ thể (Kinh/Việt) và tộc người thiểu số lớn thứ hai (Tày).
  3. Làm rõ cơ chế vận hành của ba chức năng tộc người của văn hóa (bảo tồn, chọn lọc, điều tiết) và quy luật biện chứng giữa hai quá trình: "quốc gia hóa các giá trị văn hóa tộc người" và "tộc người hóa các giá trị văn hóa quốc gia".

Đóng góp về tư liệu và phương pháp

  • Khảo sát và xử lý hệ thống ngữ liệu gồm 579 truyện kể dân gian Tày và Việt từ 11 tuyển tập cùng nguồn tư liệu điền dã dân tộc học thực tế tại Đông Bắc.
  • Thiết lập mô hình đối sánh loại hình thể loại tự sự dân gian dựa trên sự chuyển hóa từ thần thoại sang truyền thuyết theo ba trục: anh hùng hóa, lịch sử hóa và dân tộc hóa.

Ứng dụng thực tiễn và kiến nghị

  • Cung cấp tư liệu và phương pháp luận cho việc đổi mới nội dung giảng dạy văn học dân gian và văn hóa dân gian ở các cấp học theo hướng so sánh liên ngành.
  • Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào công tác giảng dạy tiếng Việt và văn hóa Việt Nam cho người nước ngoài, giúp người học tiếp cận diện mạo văn hóa Việt Nam từ tính đa dạng tộc người.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát ở ba kiểu truyện kể tiêu biểu thuộc thể loại thần thoại và truyền thuyết (những thể loại gắn liền với giai đoạn hình thành tộc người và lịch sử dựng nước, giữ nước), chưa bao quát toàn diện các thể loại tự sự dân gian khác như truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn hay truyện cười.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu mối quan hệ văn hóa Tày – Việt sang thể loại truyện cổ tích (cổ tích thần kỳ, cổ tích sinh hoạt) và các thể tài văn học dân gian khác trong các công trình tiếp theo.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  1. Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Văn học dân gian, Văn hóa học, Dân tộc học/Nhân học và Lịch sử Việt Nam; có thể tham khảo khung lý thuyết về chức năng tộc người của văn hóa và phương pháp thao tác phân tích tác phẩm qua type và motif.
  2. Giảng viên đại học và cao đẳng: Sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các học phần Văn học dân gian Việt Nam, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Tiến trình lịch sử văn hóa Việt Nam và bộ môn Tiếng Việt/Văn hóa Việt Nam cho sinh viên quốc tế.
  3. Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý văn hóa: Cung cấp luận cứ khoa học về sự tương đồng và đa dạng văn hóa phục vụ công tác bảo tồn di sản văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc.

Câu hỏi thường gặp

1. Ba chức năng tộc người của văn hóa được xác định trong luận án là gì?
Luận án khái quát chức năng tộc người của văn hóa qua ba nhiệm vụ: bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người chống lại sự áp đặt hoặc đồng hóa; chọn lọc các yếu tố văn hóa ngoại tộc để làm giàu cho văn hóa của mình; điều tiết đời sống cộng đồng nhằm duy trì sự ổn định bền vững song song với quá trình giao lưu hội nhập.

2. Hai thời điểm lịch sử nào thể hiện rõ nét nhất sự tiếp biến văn hóa Tày – Việt theo luận án?
Tác giả xác định hai thời điểm then chốt: thứ nhất là thời kỳ hình thành nhà nước Âu Lạc với vai trò thủ lĩnh của Thục Phán An Dương Vương; thứ hai là thời kỳ vương triều nhà Mạc đóng đô ở Cao Bằng (thế kỷ XVI–XVII) tạo nên sự phát triển về học vấn, Nho học, chữ Nôm Tày và sự hòa nhập của âm nhạc cung đình vào nghi lễ then/bụt/giàng.

3. Cơ cấu số lượng văn bản truyện kể dân gian được khảo sát trong luận án như thế nào?
Luận án khảo sát tổng cộng 579 truyện kể dân gian từ 11 tuyển tập chính, bao gồm 378 truyện của tộc người Kinh (Việt) và 201 truyện của tộc người Tày, kết hợp tư liệu điền dã thực tế tại Cao Bằng, Lạng Sơn và Thái Nguyên.

4. Ba kiểu truyện kể dân gian cơ bản được chọn làm đối tượng khảo sát so sánh trung tâm là gì?
Ba kiểu truyện trung tâm được khảo sát lần lượt ở các chương 2, 3 và 4 gồm: Kiểu truyện về người anh hùng kiến tạo thế giới, kiến tạo vũ trụ; Kiểu truyện về người anh hùng sáng tạo văn hóa; Kiểu truyện về người anh hùng chiến trận chống giặc ngoại xâm.

5. Những chi tiết biểu tượng nào trong truyện kể người Việt được luận án chỉ ra có nguồn gốc từ văn hóa Tày?
Luận án phân tích các biểu tượng trong truyền thuyết An Dương Vương và Mỵ Châu – Trọng Thủy mang đậm dấu ấn bản địa Tày như: hình tượng rùa vàng, gà trắng, áo lông ngỗng (từ tập tục dùng lông ngỗng làm chăn đệm của cư dân Tày cổ vùng Lĩnh Nam) và motif thân thể Mỵ Châu hóa đá nổi trôi ngược dòng sông gắn với tín ngưỡng thờ đá cổ truyền.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Hà Thị Thu Hương là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống mối quan hệ văn hóa Tày – Việt dưới góc độ thẩm mỹ văn học dân gian qua ba kiểu truyện tự sự tiêu biểu. Bằng việc kết hợp phương pháp so sánh loại hình – lịch sử và phân tích type, motif, công trình đã làm rõ các tầng lớp trầm tích văn hóa tương đồng và dị biệt giữa hai tộc người. Kết quả nghiên cứu khẳng định quy luật giao lưu, tiếp biến hai chiều và chứng minh bản sắc văn hóa Việt Nam "thống nhất trong đa dạng" trên nền tảng liên minh lịch sử Tày – Việt lâu đời.