Chương 1: Tổng quan về đề tài 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái quát về vị trí địa lý, lịch sử của tỉnh Lạng Sơn 1. Con người, địa bàn cư trú và đặc trưng văn hóa người Tày, người Nùng 1. Khái quát về hát then của người Tày, người Nùng ở tỉnh Lạng Sơn Chương 2: Nghiên cứu hát Then ở Lạng Sơn từ góc độ văn học dân gian 2.
Nội dung lời hát then ở tỉnh Lạng Sơn 2. Một số đặc điểm nghệ thuật của lời hát then Chương 3: Nghiên cứu hát Then ở Lạng Sơn từ góc độ văn hóa dân gian 3. Nghệ nhân hát then 3. Diễn xướng hát Then 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1. Khái quát về vị trí địa lý, lịch sử của tỉnh Lạng Sơn 1. Khái quát về vị trí địa lý Lạng Sơn là một tỉnh miền núi biên giới nơi địa đầu tổ quốc, cách thủ đô Hà Nội 154km. Nằm ở vĩ độ 21019’ độ đến 22027’ độ vĩ bắc.
Phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía Nam giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây giáp tỉnh Bắc Cạn, Thái Nguyên. Phía Đông giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Lạng Sơn có đường biên giới dài 253 km tiếp giáp với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trên tuyến biên giới Lạng Sơn với Trung Quốc có hai cửa khẩu quốc tế và hai cửa khẩu quốc gia và bẩy cặp chợ đường biên. Lạng Sơn là tỉnh có tuyến đường quốc lộ 1A, tuyến đường sắt quốc tế chạy suốt từ Bắc vào Nam.
Tổng diện tích 8.331,24 km, dân số 831.887 người, mật độ bình quân 99 người/km2 (theo số liệu điều tra thống kê năm 2009). Với vị trí địa lý đặc biệt, trong suốt hành trình lịch sử dựng nước và giữ nước, Lạng Sơn là vùng đất có ý nghĩa chiến lược về kinh tế, chính trị, quốc phòng, anh ninh. Ngày nay, Lạng Sơn nằm trong vùng đệm giữa địa bàn kinh tế trọng điểm Bắc Bộ: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và vùng kinh tế Tây Nam Trung Quốc. Những yếu tố trên có ảnh hưởng rất rõ nét đến sự phát triển kinh tế, văn hóa của tỉnh Lạng Sơn.
Khái quát về lịch sử Lạng Sơn là một trong những vùng đất cổ xưa nhất của Việt Nam, là một trong những địa bàn sinh sống sớm nhất nhất của loài người ở Việt Nam và Đông Nam Á. Tư liệu khảo cổ Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (huyện 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn) chứng tỏ cách đây 47 vạn năm con người đã sinh sống ở đây. Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, cư dân tiền sử ở Lạng Sơn đã sáng tạo nên nền văn hóa độc đáo: Văn hóa Bắc Sơn, Văn hóa Mai Pha. Quá trình phát triển lịch sử mang tính liên tục từ thời đồ đá sang thời vàng thau.
Trong cuốn “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi và những sách cổ đều khẳng định “Thời Hùng Vương Lạng Sơn là bộ Lục Hải” là một trong 15 bộ của nước Văn Lang cổ. Thời Bắc Thuộc, Lạng Sơn được xếp vào quận Giao Chỉ, sau đó là quận Giao Châu. Lạng Sơn gồm một số Châu như Châu Tư Lang, Lạng Châu, Lộ Châu. Cư dân ở đây được gọi là Man, Lão…với chính sách cai trị và đồng hóa của đế chế Trung Hoa, các dân tộc Lạng Sơn đã luôn giữ gìnvăn hóa bản địa, chống đồng hóa.
Không ngừng đấu tranh giành quyền tự chủ, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Bước vào thời kỳ phong kiến tự chủ, Lạng Sơn từng bước khẳng định vị thế của mình đối với vận mệnh quốc gia dân tộc. Thời Đinh, nước Đại Cồ Việt ra đời, Lạng Sơn được đặt làm đạo sang thời Lý có tên là lộ Lạng Giang đến thời Trần lộ Lạng Giang giữ nguyên. Từ khi con đường giao thông từ Thăng Long đi Trung Quốc được hình thành Lạng Sơn trở thành vùng đất hiểm yếu, trọng điểm, địa đầu quan trọng chắn thành Thăng Long và là nơi đi lại của sứ thần hai nước.
Triều đình nhà Lý đặc biệt quan tâm đến vùng đất này, các vị vua thời Lý cử quan lại lên trấn giữ miền biên ải…thắt chặt mối quan hệ giữa triều đình phong kiến trung ương với địa phương, phong chức tước cho các tù trưởng miền núi. Đáp lại ân tình đó, các tù trưởng đã có nhiều đóng góp trong việc giữ gìn biên giới tổ quốc, khẳng định quyền tự chủ của nhà nước Đại Việt. Kháng chiến chống quân Tống dân binh người Tày lịch sử dưới sự chỉ huy của các tù trưởng cùng nhân dân cả nước đã đóng góp xuất sắc vào thắng lợi của cuộc chiến. Thời 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trần, lộ Lạng Giang vẫn giữ nguyên.
Năm 1397 trấn Lạng Giang đổi thành trấn Lạng Sơn. Năm 1407 nhà Minh xâm lược nước ta, quân dân nhà Hồ chiến đấu anh dũng nhưng thất bại, đất nước rơi vào tay giặc, Lạng Sơn trở thành một trong 16 phủ Giao Chỉ của nhà Minh nên xem Lạng Sơn là nơi yết hầu xây dựng đắp nhiều hào kiên cố. Khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi chia nước thành bốn đạo, Lạng Sơn được xếp vào Bắc Đạo được xem là một phủ quan trọng, án ngữ mặt phía bắc của tổ quốc. Năm 1469, Lạng Sơn chính thúc trở thành một thừa tuyên gồm một phủ và bẩy huyện.
Năm 1831 Lạng Sơn được đặt thành tỉnh gồm một phủ bẩy châu, huyện…Năm 1888, thực dân Pháp xếp Lạng Sơn và quân khu 12 đến năm 1891 Lạng Sơn là thủ phủ của đạo quân binh số 2, tháng 6/1905 trả lại tỉnh cũ theo chế độ dân sự. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, Lạng Sơn trở thành một trong sáu tỉnh của căn cứ địa Việt Bắc. Căn cứ du kích Ba Sơn, Chi Lăng được coi là biểu tượng cho ý chí, tinh thần đánh Pháp của nhân dân Lạng Sơn. Thắng lợi của cuộc chiến trên mặt trận đường 4 nhân dân Lạng Sơn đã có đóng góp tích cực vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống Pháp 1954.
Có thể nói đây là thời kỳ anh dũng, vẻ vang của quân và dân tỉnh Lạng Sơn. Kháng chiến chống Mỹ, Lạng Sơn được coi là “Cảng nổi” tiếp nhận hàng hóa chi viện của bạn bè quốc tế; Trong kháng chiến nhân dân Lạng Sơn từng hứng chịu những trận ném bom vô cùng ác liệt của Đế quốc Mỹ xuống thị trấn Đồng Mỏ, xã Quang Lang (huyện Chi Lăng). Với ý chí quyết tâm đánh giặc Mỹ, một lần nữa quân và dân tỉnh Lạng Sơn hoàn thành xuất sắc vai trò vừa là hậu phương vừa là tiền tuyến trong cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Hoàn bình lập lại trên đất nước đến tháng 12/1975 Lạng Sơn với Cao Bằng sát nhập thành tỉnh Cao Lạng đến tháng 12/1978 tỉnh Cao lạng lại tách ra thành hai tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng.
17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngày nay, Lạng Sơn có 11 đơn vị hành chính gồm 10 huyện và thành phố, 226 xã/phường. Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn cùng chung tay xây dựng đời sống văn hóa, kinh tế phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc xây dựng tỉnh Lạng Sơn ngày càng đổi mới mạnh mẽ về An Ninh - Quốc Phòng, giàu về Kinh Tế, đẹp về Văn Hóa…Đoàn kết các dân tộc, bảo vệ vững chắc vùng đất biên cương tổ quốc. Con ngƣời, địa bàn cƣ trú và đặc trƣng văn hóa ngƣời Tày, ngƣời Nùng tỉnh Lạng Sơn 1. Con người và địa bàn cư trú Lạng Sơn là tỉnh miền núi có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống như Tày, Nùng, Kinh, Hoa, Dao, Sán Chay, Hmông.
Dân tộc Tày, dân tộc Nùng vốn có mặt rất lâu đời ở Lạng Sơn. Trải qua quá trình phát triển của lịch sử, cộng đồng các dân tộc tỉnh Lạng Sơn đoàn kết gắn bó với nhau để xây dựng và bảo vệ biên cương của tổ quốc. Theo số liệu điều tra năm 2009, dân tộc dân số của tỉnh Lạng Sơn là 831.887 triệu người, trong đó dân tộc Nùng chiếm 42,97%, dân tộc Tày chiếm 35,92%, dân tộc Kinh chiếm 16,5%, dân tộc Dao, Sán Chay, H’Mông, Hoa chỉ chiếm 4,61 dân số toàn tỉnh. Tuy nhiên với khuôn khổ của đề tài này chúng tôi chủ yếu tập trung vào một số đặc điểm chính của người Tày, Nùng và đặc trưng văn hóa hát Then của hai dân tộc trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
Dân tộc Tày ở Lạng Sơn. Dân tộc Tày trước đây gọi là Thổ, thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái. Theo lịch sử và các thư tịch cổ Tày là tên gọi đã có từ lâu đời, có thể vào cuối thiên niên kỳ thứ nhất SCN, xưa kia còn có tên gọi là người Thổ (cần slửa khao-người áo trắng); theo sử sách các vua, thủ lĩnh, tộc trưởng từ xa xưa của nhà nước Văn Lang Âu Lạc đã có nguồn gốc là người Tày cổ. Dân 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tộc Tày là dân tộc gốc ở Lạng Sơn chiếm vị trí thứ hai trong cộng đồng các dân tộc ở Lạng Sơn và có thể là một trong những dân tộc sinh sống sớm nhất trên đất nước ta.
Tên gọi, các địa danh sông suối, làng, bản đều là tiếng Tày như: Nà Pục, Nà lẹng, Héo Kin, Kéo Cướm. Địa bàn cư trú của người Tày là các thung lũng có nhiều ruộng như lòng chảo Thất Khê (huyện Tràng Định), Bắc Sơn, Bình Gia, Chi Lăng, Lộc Bình. Người Tày đảm đang, khéo léo trong việc cày cấy, trồng cây công nghiệp có giá trị lớn như cây Hồi, cây Quế. Các ngành nghề truyền thống đặc trưng của dân tộc được duy trì và phát triển như: chưng cất dầu hồi, nghề kéo dầu thực vật, làm gạch, ngói, nung vôi.
Tự túc được các loại vải để may váy áo, làm màn, khăn mặt, chăn…nam nữ đều biết đan các đồ dùng bằng cót, bồ, sọt, rổ, nơm, đó…sản phẩm được tiêu thụ trong và ngoài nước không thua kém gì người Kinh. Dân tộc Nùng ở Lạng Sơn Dân tộc Nùng sinh sống lâu đời chiếm số lượng cao nhất trong cộng đồng dân cư ở tỉnh Lạng Sơn. Dân tộc Nùng di cư từ phía Nam Trung Quốc sang, một phần là cư dân bản địa. Người Nùng có mặt ở khắp các huyện, thành phố song tập trung sinh sống đông nhất ở huyện Cao Lộc, Chi Lăng, Hữu Lũng, Văn Lãng, Văn Quan và thành phố Lạng Sơn.
Người Nùng làm ruộng nước thành thạo như người Tày, người Kinh. Xưa kia người Nùng ở Lạng Sơn còn có tên gọi theo tiếng dân tộc là (cần slửa đăm/ người áo đen) Người Nùng ở đây có ba nhánh chính là Nùng Phàn Slình, Nùng Inh, Nùng Cháo.