Tổng quan luận án

Bệnh tim bẩm sinh (BTBS) là một trong những dị tật bẩm sinh phổ biến nhất ở trẻ em, với tỷ lệ mắc được ghi nhận trong y văn khoảng 8-10 trên 1000 trẻ sinh sống, và tỷ lệ này còn cao hơn ở các trường hợp thai bị sẩy tự nhiên. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở giai đoạn sơ sinh, chiếm gần 40% tổng số các ca tử vong sơ sinh có nguyên nhân từ dị tật bẩm sinh. Ngoài ra, các bất thường tim mạch thường đi kèm với tổn thương ngoài tim và bất thường nhiễm sắc thể; điển hình là khoảng 50% trường hợp kênh nhĩ thất có kết hợp tam bội thể 21 (hội chứng Down). Về mặt kinh tế y tế, điều trị BTBS đòi hỏi chi phí điều trị và can thiệp phẫu thuật rất lớn; tại Việt Nam, chi phí cho một ca phẫu thuật tim hở tại Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh trung bình khoảng 70 triệu đồng.

Trước đây, siêu âm tim thai thường chỉ được chỉ định ở những thai phụ thuộc nhóm nguy cơ cao. Tuy nhiên, nhóm thai phụ có yếu tố nguy cơ chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong dân số; nếu chỉ tập trung sàng lọc nhóm này thì chỉ có khoảng 20% tổng số trẻ mắc BTBS được phát hiện trước sinh, trong khi đa số trẻ mắc bệnh lại sinh ra từ những bà mẹ không có yếu tố nguy cơ rõ rệt. Dù siêu âm tim thai chi tiết đã chứng minh được độ chính xác cao trong chẩn đoán tiền sản, tỷ lệ phát hiện BTBS trong cộng đồng nhìn chung vẫn còn thấp (dưới 50%), kém hơn đáng kể so với hiệu quả tầm soát các dị tật cơ quan khác. Tại Việt Nam, công tác chẩn đoán trước sinh thời gian dài chủ yếu được triển khai tại các cơ sở sản khoa mà chưa được chú trọng đúng mức tại các trung tâm tim mạch chuyên sâu. Từ năm 2005, Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh là cơ sở chuyên khoa tim mạch đầu tiên trên cả nước thành lập đơn vị siêu âm tim thai. Nhằm đánh giá năng lực thực tế và xây dựng hệ thống chỉ số tham chiếu giải phẫu tim thai phù hợp với quần thể người Việt, nghiên cứu này đã được tiến hành.

Mục tiêu tổng quát của luận án là đánh giá vai trò của siêu âm tim thai trong chẩn đoán bệnh tim bẩm sinh trước sinh. Hai mục tiêu cụ thể được xác định như sau:

  1. Xác định giá trị của siêu âm tim thai trong chẩn đoán bệnh tim bẩm sinh ở cơ sở chuyên khoa tim mạch.
  2. Xác định khoảng tham chiếu (reference intervals) của một số kích thước tim thai bình thường từ 16 đến 40 tuần tuổi được siêu âm tại Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các thai phụ và thai nhi được chỉ định và thực hiện siêu âm tim thai tại Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi không gian: Đơn vị Siêu âm tim thai, Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian và tuổi thai: Thai nhi có tuổi thai từ 16 đến 40 tuần; nghiên cứu hoàn thành và bảo vệ năm 2014.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu cơ bản và ứng dụng về dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh và chẩn đoán hình ảnh tim thai:

Về tần suất mắc bệnh, nghiên cứu tổng hợp 62 công trình của Hoffman (2002) cho thấy tỷ lệ BTBS dao động từ 8 đến 10 phần nghìn trẻ sinh sống. Tác giả luận án chấp nhận định nghĩa của Mitchell và cộng sự (1971), theo đó BTBS là bất thường cấu trúc đáng kể của tim hoặc các mạch máu lớn trong lồng ngực làm thay đổi hoặc có khả năng làm rối loạn chức năng có ý nghĩa đối với hệ tuần hoàn; định nghĩa này loại trừ các biến thể tĩnh mạch hệ thống đơn thuần (như tồn tại tĩnh mạch chủ trên trái), bất thường nhánh động mạch chủ, cũng như các rối loạn nhịp tim đơn độc không kèm tổn thương cấu trúc.

Về tỷ lệ phát hiện BTBS qua siêu âm tim thai ở các quần thể dân số, luận án điểm lại các công trình tiêu biểu:

  • Copel và cs (1987): Mẫu nghiên cứu 1022 ca, tỷ lệ phát hiện BTBS là 74/1000.
  • Achiron và cs (1992): Khảo sát 5347 ca, tỷ lệ BTBS là 4,3/1000.
  • Tegnander và cs (1995): Khảo sát 7459 ca, tỷ lệ BTBS là 12/1000.
  • Gill và cs (2003): Khảo sát 6640 ca, tỷ lệ BTBS là 27/1000.
  • Oggè và cs (2006): Khảo sát 6368 ca, tỷ lệ BTBS là 9,1/1000.
  • Kovavisarach và cs (2011): Khảo sát 852 ca, tỷ lệ BTBS là 77/1000.
Dạng bệnh tim bẩm sinh sau sinh Tỷ lệ trên 1000 trẻ sinh sống (theo Hoffman, 2002)
Thông liên thất 3,570
Thông liên nhĩ 0,941
Còn ống động mạch 0,799
Hẹp động mạch phổi 0,729
Tứ chứng Fallot 0,421
Hẹp eo động mạch chủ 0,409
Hẹp động mạch chủ 0,401
Kênh nhĩ thất 0,348
Chuyển vị đại động mạch 0,315
Thiểu sản tim trái 0,266
Thiểu sản tim phải 0,222
Thất phải hai đường ra 0,157
Không lỗ van động mạch phổi 0,132
Bệnh Ebstein 0,114
Thân chung động mạch 0,107
Tâm thất độc nhất 0,106
Hồi lưu tĩnh mạch phổi bất thường toàn phần 0,094
Không lỗ van ba lá 0,079

Về kỹ thuật khám nghiệm, siêu âm tim thai ban đầu dựa chủ yếu vào mặt cắt 4 buồng tim chuẩn. Tuy nhiên, nhiều tác giả ghi nhận mặt cắt 4 buồng có tỷ lệ âm tính giả cao đối với các bất thường đường ra của thất và bất thường các đại động mạch. Nhiều nghiên cứu đối chiếu đã chứng minh sự vượt trội khi bổ sung các mặt cắt đường ra của thất (mặt cắt cơ bản mở rộng):

Tác giả và năm Nhóm nguy cơ Độ nhạy mặt cắt cơ bản (%) Độ nhạy mặt cắt mở rộng (%)
Achiron và cs (1992) Nguy cơ thấp 48,0 78,0
Kirk và cs (1994) Nguy cơ thấp 47,0 78,0
Stumpflen và cs (1996) Hỗn hợp Không nêu 88,5

Tổng hợp từ 13 nghiên cứu quốc tế về chẩn đoán trước sinh (Meyer 2001, Boldt 2002, Delprat 2002, Fesslova 2003, Tegnander 2006, Acherman 2007, Bakiler 2007, Khoo 2008, Berkley 2009, Friedberg 2009, Lee 2010, Kovavisarach 2011, Marek 2011) với tổng cộng 3302 trường hợp BTBS được xác định trước sinh cho thấy các tổn thương chiếm số lượng lớn nhất gồm: hội chứng thiểu sản tim trái (444 ca), kênh nhĩ thất (441 ca), thông liên thất (392 ca), tứ chứng Fallot kèm không lỗ van động mạch phổi (306 ca), tâm thất độc nhất (280 ca), thất phải hai đường ra (204 ca), hẹp eo động mạch chủ (153 ca), chuyển vị đại động mạch (153 ca).

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết: Phần lớn các nghiên cứu tầm soát và chẩn đoán tim thai trước đây được thực hiện trong môi trường sản khoa thuần túy. Chưa có công trình quy mô lớn nào tại Việt Nam tiến hành đánh giá toàn diện giá trị chẩn đoán của siêu âm tim thai tại một trung tâm chuyên khoa tim mạch - nơi tập trung bệnh nhân chuyển tuyến và có khả năng phẫu thuật, can thiệp tim mạch sơ sinh. Mặt khác, các bác sĩ siêu âm trong nước chưa có bảng khoảng tham chiếu chuẩn về các kích thước hình học tim thai dựa trên quần thể thai nhi bình thường tại Việt Nam, mà phải dựa vào các biểu đồ tham chiếu của nước ngoài.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết của đề tài dựa trên các nguyên lý sinh lý học tuần hoàn thai nhi và giải phẫu tim mạch học phát triển:

  • Đặc điểm tuần hoàn thai: Hai tâm thất làm việc song song thay vì nối tiếp như sau sinh. Máu giàu oxy từ bánh nhau theo tĩnh mạch rốn (lưu lượng trung bình 175 ml/kg/phút) qua ống tĩnh mạch vào tĩnh mạch chủ dưới, phần lớn đi qua lỗ bầu dục sang nhĩ trái, xuống thất trái rồi bơm vào động mạch chủ lên để ưu tiên cung cấp cho não và chi trên. Máu nghèo oxy từ tĩnh mạch chủ trên xuống nhĩ phải, qua thất phải lên động mạch phổi, và phần lớn qua ống động mạch đổ vào động mạch chủ xuống để trở lại bánh nhau qua hai động mạch rốn.
  • Các khuyến cáo kỹ thuật: Luận án áp dụng các hướng dẫn chuẩn hóa về mặt cắt siêu âm tim thai của Viện Siêu âm trong Y học Hoa Kỳ (AIUM, 1998, 2013), Hiệp hội Siêu âm Tim Hoa Kỳ (ASE, 2004), Hiệp hội Siêu âm Sản Phụ khoa Quốc tế (ISUOG, 2013) và Hiệp hội Tim mạch Nhi Châu Âu (AEPC). Kỹ thuật phân tích tim thai dựa trên nguyên tắc phân tích theo từng phân đoạn kết nối giải phẫu (kết nối tĩnh mạch - nhĩ, nhĩ - thất, thất - đại động mạch).
  • Hệ thống các mặt cắt chuẩn được khảo sát:
    1. Các mặt cắt ngang: Ngang bụng cao, 4 buồng tim, đường ra thất trái (5 buồng), đường ra thất phải (3 mạch máu), 3 mạch máu và khí quản (mô tả theo Yagel và cs).
    2. Các mặt cắt trục dọc: Dọc qua thất trái, ngang van động mạch chủ, dọc cung ống động mạch, dọc cung động mạch chủ, dọc hai tĩnh mạch chủ.
    3. Các mặt cắt ngang van hai lá và ngang gốc động mạch chủ.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang và theo dõi dọc đoàn hệ có đối chiếu kết quả sau sinh.
  • Cỡ mẫu và cách thức chọn mẫu: Tổng số 3910 thai nhi được thực hiện siêu âm tim thai tại Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó, có 2924 trường hợp theo dõi được kết quả sau sinh (qua khám lâm sàng, siêu âm tim sau sinh hoặc giải phẫu tử thiết) để tính toán các giá trị chẩn đoán. Nhóm xây dựng khoảng tham chiếu gồm 2535 thai nhi có kết quả theo dõi sau sinh hoàn toàn bình thường, tuổi thai từ 16 đến 40 tuần.
  • Phương tiện kỹ thuật: Sử dụng máy siêu âm chuyên dụng Philips Envisor C trang bị các đầu dò chuyên biệt; tích hợp siêu âm 2 bình diện (2D), siêu âm 1 bình diện (TM), Doppler màu và Doppler xung.
  • Các biến số và kỹ thuật đo đạc:
    • Đo tỷ lệ diện tích tim/lồng ngực, trục tim thai (bình thường 30-60 độ), tần số tim thai.
    • Đo kích thước tâm thu và tâm trương của thất trái (ĐKTTTT, ĐKTTTTr), thất phải (ĐKTPTT, ĐKTPTTr).
    • Đo bề dày vách liên thất tâm trương (VLT), thành sau thất trái (TTT), thành bên thất phải (TTP).
    • Đo kích thước nhĩ trái, nhĩ phải, đường kính vòng van hai lá, van ba lá, vòng van động mạch chủ, vòng van động mạch phổi và kích thước eo động mạch chủ.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Sử dụng bảng tiếp liên 2x2 để xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm, độ chính xác đối với BTBS nói chung và BTBS nặng. Xây dựng các bảng phân vị bách phân (percentiles: 5th, 50th, 95th) và các phương trình hồi quy tương quan kích thước tim thai theo tuổi thai từ 16 đến 40 tuần.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết cơ sở lý luận và tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế. Tác giả phân tích dịch tễ học BTBS, khẳng định đây là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ sơ sinh, chiếm gần 40% tử vong do dị tật bẩm sinh. Phần sinh lý học trình bày chi tiết tuần hoàn thai nhi, sự vận chuyển dòng máu qua ống tĩnh mạch, lỗ bầu dục, ống động mạch và các cơ chế thay đổi tuần hoàn ngay sau sinh (đóng ống động mạch, đóng lỗ bầu dục, thoái hóa động mạch rốn).

Lịch sử phát triển siêu âm tim thai được điểm lại từ đầu thập niên 1980 đến các tiến bộ gần đây. Tác giả phân tích sâu về tiêu chuẩn giải phẫu của mặt cắt 4 buồng tim bình thường và nêu bật các dạng BTBS có thể bị bỏ sót trên mặt cắt 4 buồng (Bảng 1.3 trong luận án): tứ chứng Fallot, chuyển vị đại động mạch, thất phải hai đường ra, thông liên thất nhỏ, thân chung động mạch, hẹp nhẹ van tổ chim, bất thường cung động mạch chủ. Đối lập với đó là các bệnh có mặt cắt 4 buồng bất thường (Bảng 1.4): teo van động mạch chủ/hai lá, teo van động mạch phổi/ba lá, bệnh Ebstein, kênh nhĩ thất, thông liên thất lỗ lớn, tâm thất độc nhất, thiểu sản thất.

Chương 1 cũng phân tích ưu điểm của mặt cắt mở rộng (đường ra thất, 3 mạch máu, 3 mạch máu và khí quản), việc ứng dụng đo độ mờ sau gáy từ tuần 11-14 (khi khoảng mờ sau gáy > 3,5 mm là có chỉ định siêu âm tim thai), những giới hạn của siêu âm tim thai sớm (nguy cơ âm tính giả do tổn thương biểu hiện muộn ở nửa sau thai kỳ như bệnh cơ tim phì đại, hẹp tiến triển đường ra của thất) và tình trạng của kỹ thuật siêu âm 3-4 chiều lúc bấy giờ.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết tiêu chuẩn chọn bệnh và quy trình thực hành lâm sàng tại Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh. Chương này mô tả cấu hình thiết bị máy siêu âm Philips Envisor C, kỹ thuật cắt chuẩn hóa 9 mặt cắt cơ bản và mở rộng, phương pháp đo đạc các kích thước buồng tim và đại động mạch trên siêu âm 2D và siêu âm M-mode theo trục chuẩn. Tác giả xác lập quy trình xử lý dữ liệu đối chiếu sau sinh (thu thập qua bệnh án sơ sinh, siêu âm tim sau sinh, biên bản phẫu thuật hoặc tử thiết), quy trình theo dõi các trường hợp mất dấu và phương pháp toán học áp dụng bảng 2x2 để thẩm định giá trị chẩn đoán.

Chương 3: Kết quả

Chương Kết quả cung cấp toàn bộ các số liệu nghiên cứu gốc được xử lý qua các bảng và biểu đồ:

  • Đặc điểm mẫu nghiên cứu: Tổng số 3910 thai nhi được khám nghiệm. Số ca theo dõi được kết quả sau sinh là 2924 trường hợp (chiếm 74,8%). Phân bố thai phụ theo tỉnh thành (Phụ lục 3) cho thấy phạm vi bệnh nhân tiếp nhận trải rộng khắp các tỉnh phía Nam.
  • Giá trị chẩn đoán của siêu âm tim thai:
    • Trên nhóm 2924 thai nhi có đối chiếu sau sinh, siêu âm tim thai thể hiện độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm rất cao. Luận án liệt kê chi tiết các ca âm tính giả (Bảng 3.21) và phân tích riêng bảng 2x2 cho nhóm các bệnh tim bẩm sinh nặng (Bảng 3.22, 3.23).
    • Luận án cũng thiết lập bảng 2x2 giả định trên toàn bộ 3910 thai nhi theo hai kịch bản phân bổ nhóm không theo dõi được (Bảng 3.24, 3.26, 3.27, 3.29) để bảo đảm tính khách quan thống kê.
  • Tần số các dạng BTBS: Liệt kê chi tiết cơ cấu bệnh lý phát hiện trước sinh (Bảng 3.30) và xác định sau sinh (Bảng 3.31). Các mặt bệnh phổ biến gồm thông liên thất, thông liên nhĩ, tứ chứng Fallot, kênh nhĩ thất, hẹp eo động mạch chủ, chuyển vị đại động mạch, hội chứng thiểu sản tim trái, bệnh Ebstein.
  • Xây dựng khoảng tham chiếu: Dựa trên 2535 thai nhi có kết quả sau sinh bình thường (Bảng 3.32), chương 3 cung cấp hệ thống biểu đồ tương quan tuyến tính theo tuổi thai từ 16 đến 40 tuần cho: thành bên thất phải tâm trương (Biểu đồ 3.10), thành sau thất trái tâm trương (Biểu đồ 3.11), vách liên thất tâm trương (Biểu đồ 3.12), đường kính thất trái tâm trương và tâm thu (Biểu đồ 3.13, 3.15), đường kính thất phải tâm trương và tâm thu (Biểu đồ 3.14, 3.16), kích thước nhĩ trái và nhĩ phải (Biểu đồ 3.17, 3.18), kích thước vòng van hai lá (Biểu đồ 3.19, 3.20), vòng van động mạch chủ (Biểu đồ 3.21), vòng van động mạch phổi (Biểu đồ 3.22) và eo động mạch chủ (Biểu đồ 3.23). Bảng bách phân vị tỷ lệ diện tích tim/lồng ngực (Bảng 3.34) và tần số tim thai (Bảng 3.36) cũng được thiết lập chi tiết.

Chương 4: Bàn luận

Chương Bàn luận tập trung vào bốn nội dung chính:

  • Bàn luận về cỡ mẫu và đặc điểm dân số: Phân tích quy mô 3910 trường hợp, đặc điểm thai phụ đến khám tại Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh, so sánh với các nghiên cứu trong nước của tác giả trước đây và các nghiên cứu lớn trên thế giới.
  • Bàn luận về giá trị của siêu âm tim thai: So sánh độ nhạy của siêu âm tim thai chi tiết trong nghiên cứu với các y văn quốc tế (đối chiếu Bảng 3.43). Phân tích chi tiết hình ảnh học và độ chính xác chẩn đoán đối với từng nhóm dị tật cụ thể: kênh nhĩ thất, thông liên thất (đặc biệt là thông liên thất cơ bè nhỏ 2mm phát hiện nhờ Doppler màu), hội chứng thiểu sản tim trái, tứ chứng Fallot (dấu hiệu động mạch chủ cưỡi ngựa trên mặt cắt 5 buồng, hẹp đường ra thất phải), bệnh Ebstein, hẹp eo động mạch chủ (hình ảnh mất cân đối kích thước tim phải lớn hơn tim trái và Doppler màu mặt cắt 3 mạch máu), chuyển vị đại động mạch (hình ảnh hai đại động mạch chạy song song). Tác giả phân tích căn nguyên các trường hợp âm tính giả và dương tính giả.
  • Bàn luận về khoảng tham chiếu kích thước tim thai bình thường: So sánh các chỉ số giải phẫu đo đạc được ở thai nhi Việt Nam với các bảng tham chiếu chuẩn của tác giả nước ngoài, phân tích sự thay đổi sinh lý của tỷ lệ tim/lồng ngực và kích thước buồng tim theo sự phát triển của thai kỳ.
  • Nêu rõ các hạn chế nội tại của đề tài.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn của luận án:

  • Về mặt thực tiễn y học: Đây là công trình nghiên cứu quy mô lớn đầu tiên tại Việt Nam được tiến hành tại một trung tâm chuyên khoa tim mạch chuyên sâu (Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh), đánh giá chuẩn xác giá trị chẩn đoán của siêu âm tim thai chi tiết đối với bệnh tim bẩm sinh trước sinh trên cỡ mẫu lớn (3910 thai nhi, với 2924 ca có theo dõi đối chiếu sau sinh).
  • Về mặt kỹ thuật chẩn đoán: Nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả và sự cần thiết của việc triển khai quy trình siêu âm tim thai toàn diện, chuẩn hóa kết hợp giữa mặt cắt 4 buồng truyền thống với các mặt cắt mở rộng (đường ra của thất, mặt cắt 3 mạch máu, 3 mạch máu và khí quản) cùng với việc ứng dụng có hệ thống siêu âm Doppler màu và Doppler xung, giúp giảm thiểu đáng kể tỷ lệ âm tính giả đối với các bệnh tim bẩm sinh phức tạp liên quan đến đại động mạch.
  • Về mặt cơ sở dữ liệu tham chiếu: Luận án đã xây dựng thành công bảng bách phân vị (khoảng tham chiếu từ bách phân vị thứ 5 đến thứ 95) cho các thông số hình học tim thai bình thường (tỷ lệ tim/lồng ngực, tần số tim, kích thước buồng tim, độ dày thành tim, đường kính các vòng van và đại động mạch) theo tuổi thai từ 16 đến 40 tuần tuổi trên cơ sở 2535 thai nhi Việt Nam có xác nhận sau sinh bình thường.

Kiến nghị của luận án:

  • Đề nghị đưa các mặt cắt đường ra của thất và mặt cắt 3 mạch máu vào quy trình siêu âm sàng lọc tim thai thường quy trước sinh tại các cơ sở y tế có thực hiện siêu âm sản khoa.
  • Tăng cường đào tạo, chuyển giao kỹ thuật siêu âm tim thai chi tiết cho các bác sĩ sản khoa và tim mạch nhằm nâng cao tỷ lệ phát hiện BTBS trong cộng đồng.
  • Xây dựng mô hình phối hợp chặt chẽ liên chuyên khoa giữa Sản khoa và Tim mạch học can thiệp/Phẫu thuật tim mạch để lên kế hoạch quản lý thai kỳ, chuẩn bị điều kiện hồi sức sơ sinh và can thiệp điều trị sớm ngay sau khi trẻ chào đời.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài được tác giả ghi nhận:

  • Nghiên cứu có một tỷ lệ đối tượng bị mất dấu theo dõi sau sinh (trong tổng số 3910 thai nhi, có 986 trường hợp không thu thập được kết quả sau sinh, chiếm 25,2%), buộc tác giả phải thiết lập các phân tích thống kê giả định trên mẫu tổng.
  • Một số dạng tổn thương tim bẩm sinh có kích thước giải phẫu rất nhỏ (như thông liên thất cơ bè nhỏ đơn thuần) hoặc các tổn thương có tính chất tiến triển phụ thuộc vào sự biến đổi huyết động muộn cuối thai kỳ (như hẹp nhẹ eo động mạch chủ, hẹp nhẹ van tổ chim) vẫn tồn tại nguy cơ âm tính giả trên siêu âm trước sinh.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiếp tục mở rộng các nghiên cứu theo dõi dọc thuần tập dài hạn từ giai đoạn thai nhi, sau sinh cho đến các mốc can thiệp phẫu thuật và theo dõi chất lượng sống sau mổ.
  • Đánh giá sâu hơn hiệu quả của siêu âm tim thai sớm ở quý 1 thai kỳ (11-14 tuần) và tiềm năng ứng dụng của kỹ thuật siêu âm 3-4 chiều khi điều kiện công nghệ và trang thiết bị cho phép.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, bác sĩ nội trú và học viên sau đại học chuyên ngành Nội tim mạch, Nhi khoa, Sản phụ khoa và Chẩn đoán hình ảnh.
  • Bác sĩ thực hành lâm sàng tại các đơn vị sàng lọc trước sinh và các khoa tim mạch trẻ em.

Các nội dung có giá trị tham khảo nổi bật bao gồm:

  • Quy trình mô tả chi tiết giải phẫu học và kỹ thuật tiếp cận 9 mặt cắt siêu âm tim thai cơ bản và mở rộng.
  • Bảng tổng hợp các dấu hiệu hình ảnh học phân biệt các dị tật tim phức tạp (kênh nhĩ thất, tứ chứng Fallot, chuyển vị đại động mạch, bệnh Ebstein, hẹp eo động mạch chủ).
  • Hệ thống bảng số liệu bách phân vị khoảng tham chiếu các kích thước tim thai bình thường từ 16 đến 40 tuần tuổi (Phụ lục 5 và Chương 3), đóng vai trò là bộ chỉ số chuẩn thực địa tại Việt Nam cho các bác sĩ siêu âm đối chiếu khi đánh giá hình thái tim thai.

Câu hỏi thường gặp

1. Tần suất mắc bệnh tim bẩm sinh ở trẻ sinh sống được ghi nhận trong luận án là bao nhiêu?

Theo tổng quan y văn từ 62 nghiên cứu của Hoffman (2002) được trích dẫn trong luận án, tần suất mắc bệnh tim bẩm sinh trung bình dao động từ 8 đến 10 trường hợp trên 1000 trẻ sinh sống. Tỷ lệ này còn cao hơn ở những trường hợp thai bị sẩy tự nhiên.

2. Vì sao việc chỉ siêu âm tim thai ở nhóm thai phụ có yếu tố nguy cơ lại không đủ để tầm soát bệnh tim bẩm sinh trong cộng đồng?

Theo các nghiên cứu được luận án tổng kết, số lượng thai phụ có yếu tố nguy cơ trong cộng đồng chiếm tỷ lệ rất thấp. Nếu chỉ tập trung siêu âm tim thai ở nhóm có yếu tố nguy cơ thì chỉ phát hiện được khoảng 20% tổng số trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh, trong khi khoảng 80% trẻ mắc bệnh lại sinh ra từ những thai phụ hoàn toàn không có yếu tố nguy cơ kinh điển.

3. Những dạng bệnh tim bẩm sinh nào thường có hình ảnh mặt cắt 4 buồng tim bình thường?

Các dạng bệnh tim bẩm sinh thường có mặt cắt 4 buồng tim bình thường (dễ bị bỏ sót nếu không khảo sát mặt cắt mở rộng) bao gồm: tứ chứng Fallot, chuyển vị đại động mạch, thất phải hai đường ra, thông liên thất nhỏ, thân chung động mạch, hẹp nhẹ van tổ chim và các bất thường của cung động mạch chủ.

4. Quy mô mẫu nghiên cứu và số lượng thai nhi được theo dõi đối chiếu sau sinh trong luận án là bao nhiêu?

Nghiên cứu tiến hành siêu âm tim thai trên tổng số 3910 thai nhi tại Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó, có 2924 trường hợp có đầy đủ thông tin theo dõi và đối chiếu chẩn đoán xác định sau sinh, và 2535 thai nhi có kết quả sau sinh hoàn toàn bình thường được đưa vào phân tích để xây dựng hệ thống khoảng tham chiếu kích thước tim thai từ tuần 16 đến 40.

5. Thiết bị siêu âm chính được sử dụng để thu thập số liệu trong nghiên cứu này là gì?

Nghiên cứu sử dụng hệ thống máy siêu âm chuyên dụng Philips Envisor C, được trang bị đầy đủ các tính năng siêu âm 2 bình diện (2D), siêu âm 1 bình diện (M-mode), Doppler màu và Doppler xung để thực hiện khảo sát tim thai.

Kết luận

Luận án Tiến sĩ Y học của tác giả Lê Kim Tuyến đã đánh giá toàn diện giá trị của siêu âm tim thai trong chẩn đoán trước sinh bệnh tim bẩm sinh tại một trung tâm chuyên khoa tim mạch lớn ở Việt Nam trên cỡ mẫu 3910 thai nhi. Công trình đã khẳng định vai trò cốt lõi của việc chuẩn hóa các mặt cắt mở rộng kết hợp kỹ thuật Doppler để khắc phục triệt để hạn chế của mặt cắt 4 buồng đơn thuần trong chẩn đoán các dị tật đại động mạch phức tạp. Đồng thời, luận án đã xây dựng thành công bộ chỉ số tham chiếu bách phân vị về kích thước giải phẫu tim thai bình thường từ tuần 16 đến 40 trên 2535 thai nhi Việt Nam, cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng phục vụ công tác chẩn đoán tiền sản và thực hành tim mạch học nhi khoa.