Sách chuyên khảo luật hình sự Việt Nam và các điều ước quốc tế - Nguyễn Văn Hương chủ biên

Sách chuyên khảo luật hình sự Việt Nam với các điều ước quốc tế, phân tích sâu về hệ thống pháp luật, bình luận chuyên sâu từ các chuyên gia hàng đầu.

Trường đại học

Nhà xuất bản Tư pháp

Chuyên ngành

Luật hình sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Sách chuyên khảo

2017

235
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

I. LỜI GIỚI THIỆU

1. CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1. VAI TRÒ CỦA CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ ĐỐI VỚI LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.2. KHÁI QUÁT THỰC TIỄN XÂY DỰNG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TRONG SỰ THỐNG NHẤT VỚI CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

Tóm tắt

I. Giới thiệu về sách chuyên khảo

Cuốn sách 'Luật hình sự Việt Nam và điều ước quốc tế' do Nguyễn Văn Hương chủ biên là một tài liệu quan trọng trong lĩnh vực luật hình sự tại Việt Nam. Sách tập trung vào việc phân tích mối quan hệ giữa luật hình sự Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết. Nội dung cuốn sách không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các quy định pháp luật hiện hành mà còn chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và các tiêu chuẩn quốc tế. Cuốn sách được biên soạn nhằm phục vụ cho sinh viên, học viên và các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực nghiên cứu luật. Đặc biệt, nó cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc nội luật hóa các quy định của điều ước quốc tế trong Bộ luật hình sự, từ đó nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật tại Việt Nam.

II. Vai trò của các điều ước quốc tế đối với luật hình sự Việt Nam

Việc ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế có vai trò quan trọng trong việc định hình và phát triển luật hình sự tại Việt Nam. Các điều ước này không chỉ giúp Việt Nam nâng cao uy tín quốc tế mà còn tạo điều kiện cho việc hợp tác quốc tế trong đấu tranh chống tội phạm. Sự tham gia của Việt Nam vào các công ước quốc tế về nhân quyền và phòng chống tội phạm thể hiện cam kết mạnh mẽ trong việc bảo vệ quyền con người và đảm bảo an ninh quốc gia. Cuốn sách chỉ ra rằng, việc thực hiện các cam kết quốc tế đòi hỏi Việt Nam phải điều chỉnh hệ thống pháp luật, đặc biệt là Bộ luật hình sự, để phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Điều này không chỉ giúp Việt Nam thực hiện nghĩa vụ quốc tế mà còn góp phần bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân.

III. Phân tích các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam

Cuốn sách cung cấp một cái nhìn tổng quan về các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam, đặc biệt là những quy định liên quan đến các tội phạm có tính chất quốc tế như tội phạm tham nhũng, buôn bán người, và khủng bố. Các tác giả đã chỉ ra rằng, Bộ luật hình sự đã có những sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việc nội luật hóa các quy định này không chỉ giúp Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế mà còn tạo cơ sở pháp lý cho việc hợp tác quốc tế trong đấu tranh chống tội phạm. Sách cũng chỉ ra những hạn chế trong việc thực thi các quy định này và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật hình sự.

IV. Đánh giá giá trị và ứng dụng thực tiễn của cuốn sách

Cuốn sách 'Luật hình sự Việt Nam và điều ước quốc tế' không chỉ là tài liệu tham khảo quý giá cho sinh viên và học viên mà còn là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà nghiên cứu và thực hành trong lĩnh vực nghiên cứu luật. Nó cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa luật hình sự và các điều ước quốc tế, từ đó giúp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc hội nhập quốc tế trong lĩnh vực pháp luật. Sách cũng chỉ ra rằng, việc hoàn thiện Bộ luật hình sự là một yêu cầu khách quan trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân và đảm bảo an ninh quốc gia. Những phân tích và đánh giá trong cuốn sách sẽ góp phần thúc đẩy việc cải cách pháp luật tại Việt Nam, hướng tới một hệ thống pháp luật hiện đại và hiệu quả hơn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I], Chương III và Chương V của cuốn sách này. 1] Luật hình sự Việt Nam với các điêu ước quốc tê Nam buộc phải có sự chuẩn bị các điều kiện cần thiết, đặc biệt là sự điều chỉnh về chính sách, pháp luật để có thé thực thi đầy đủ các cam kết quốc tế. Việc rà soát, sửa đôi, bố sung các quy định của pháp luật để bảo đảm sự hài hoà giữa pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế là việc không đơn giản, được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, và không thê thực hiện ngay trong thời gian ngắn ”. Tuy nhiên, trong những năm gan đây, cùng với việc tham gia hàng chục điêu ước quốc tế quan trọng, Việt Nam đã tiến hành sửa đối, bố sung và ban hanh mới hang chục van bản luật khác nhau.

Điều này đã chứng tỏ quyết tâm rất lớn của Việt Nam trong việc tích cực hội nhập quốc tế, cố gắng nỗ lực bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế của nhà nước. Dé bảo dam lợi ích của các quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế, bảo vệ quyền con người, ngăn chặn và dau tranh chống các hành vi phạm tội đang diễn ra rất nghiêm trọng trên toàn thế giới, các điều khoản về hình sự luôn được đặt ra, đặc biệt là các công ước của Liên hợp quốc về phòng, chống tội phạm. Việc gia nhập các điều ước quốc tế đòi hỏi các quốc gia trong đó có Việt Nam phải có hình thức thích hợp (thường là nội luật hoá) các điều khoản về hình sự để bảo đảm thực thi điều ước. Để thực hiện nghĩa '° Xem thêm: Chương III (từ Điều 31 đến Điều 80) Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

Những vẫn dé chung vụ cua quốc gia thành viên, Việt Nam trong những năm qua đã tích cực nội luật hoá các quy định về hình sự trong các điều ước, nhất là các công ước của Liên hợp quốc về phòng. chống tội phạm dé tạo sự hài hoa giữa pháp luật hình sự Việt Nam với quy định về hình sự trong các điều ước, bảo đảm thực thi các điêu ước quốc tế. Tuy nhiên, để nội luật hoá các điều khoản về hình sự trong các điều ước và thực thi điều ước, tạo điều kiện cho việc hợp tác quốc tế dau tranh chong tội phạm, chung ta cần rà soát, đánh giá tông thể về yêu cầu của điều ước cũng như khả năng đáp ứng của Việt Nam, từ đó xác định các yêu cầu cụ thé đối với việc sửa đổi, bô sung BLHS dé thực thi các điều ước quốc tế có hiệu quả. Việc ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế'', đồng thời nội luật hoá quy định trong các điều ước thành pháp luật trong nước, đặc biệt là các quy định về hình sự là yêu cầu và đòi hỏi khách quan đổi với Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.

Theo quy định tại Điều 3 Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, thì việc ký kết, gia nhập và !' Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chu nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chú nghĩa Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thé khác của pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác (Điều 2 Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005). 13 Luật hình sự Việt Nam với các điều ước quoc tê thực hiện điều ước quốc tế phải tuân thủ nhiều nguyên tắc, trong đó có nguyên tắc: “Phù hợp với các quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Điều 6 Luật này quy định: “7rong trưởng hợp văn bản quy phạm pháp luật va điêu ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau vé cùng một van dé thì áp dụng quy định của diéu ước quốc tế” (khoản 1); Điều luật này còn quy định: “Căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chat của diéu ước quốc tế, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phú khi quyết định chap nhận sự ràng buộc của điều ước quốc té đồng thời quyết định ap dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điêu ước quốc tế đó đối với cơ quan, tô chức, cá nhân trong trường hợp quy định cua điêu ước quốc tế đã đủ rõ, chỉ tiết dé thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đôi, bồ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật đề thực hiện điều ước quốc tế đó”(khoản 3). Theo quy định tại Điêu 2 BLHS năm 1999 quy định: “Chi người nào phạm mot tôi đã được Bo luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự"”'ˆ.

Như vay, các quy định về hình sự trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên để được thực hiện tại Việt Nam đòi hói phải được nội luật hoá thành pháp luật trong nước. Vì vậy, trừ một số điều khoản có thể bảo lưu thì việc hoàn thiện pháp luật nói '2 Quy định này từng được quy định tại Điều 2 BLHS năm 1985 và tiếp tục được quy định lại tại Điêu 2 BLHS năm 2015. Những van dé chung chung, BLHS nói riêng dé thực hiện các điêu ước quốc tê ma Việt Nam là thành viên là yêu câu bat buộc khi Việt Nam ky kêt, gia nhập các điều ước quốc te. Việt Nam hiện nay đã tham gia hàng trăm điều ước quốc tế thuộc nhiêu lĩnh vực khác nhau, trong đó có nhiều quy định của điều ước đòi hỏi phải được nội luật hoá, đặc biệt là các quy định về hình sự.

Dé bao đảm sự hai hoà, tương thích giữa pháp luật hình sự Việt Nam với quy định về hình sự trong các điều ước quốc tế, đáp ứng yêu cau dau tranh chống tội phạm có tính quốc tế, thì việc hoàn thiện pháp luật hình sự là rất cần thiết. Việc hoàn thiện pháp luật hình sự không chỉ là trách nhiệm của Việt Nam trong việc bao đảm thực hiện các cam kết quốc tế mà còn góp phân bảo đảm lợi ích của nhà nước, bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của tô chức và công dân trong quan hệ quốc tế; bảo vệ an ninh quốc gia đồng thời góp phan cùng cộng đồng quốc tê dau tranh chống tội phạm. Việc hoàn thiện BLHS Việt Nam là đòi hỏi khách quan của quá trình hội nhập quốc tê của Việt Nam hiện nay. KHÁI QUÁT THỰC TIEN XÂY DỰNG LUAT HÌNH SỰ VIỆT NAM TRONG SỰ THONG NHAT VỚI CAC DIEU UOC QUOC TE Đề đáp ứng yêu cầu dau tranh chỗng tội phạm trong tinh hình tội phạm có xu hướng toàn cầu hoá với nhiều loại tội 15 Luật hình sự Việt Nam với các điều ước quốc té phạm có tính nguy hiểm cao như: tội phạm về ma tuý, tội phạm mua bán người, tội phạm khủng bố quốc tế.

và bao đảm thực thi các điều khoản về hình sự trong các điều ước quốc tế, nhà nước Việt Nam đã ban hành các quy định mới, sửa đối, bố sung những quy định hiện có của BLHS. Việc nội luật hoá các quy định về hình sự trong các điều ước quốc tế, tạo cơ sở pháp lý cho Việt Nam và các nước có thể hợp tác hiệu quả trong việc dau tranh chồng tội phạm. Thực tiễn đấu tranh chống tội phạm, đặc biệt là các tội phạm có tô chức xuyên quốc gia cho thấy, Việt Nam và các nước chỉ có thể tương trợ hoặc tiếp nhận sự tương trợ tư pháp của các quốc gia, các tổ chức quốc tế trong việc bắt giữ, điều tra, dẫn độ xử lý hành vi phạm tội nếu pháp luật của các quốc gia (là các bên trong quan hệ hợp tác, tương trợ) có quy định tương thích (phù hợp ở mức độ nhất định) về hành vi phạm tội cần tương tro tư pháp. Chúng ta có thé thay rõ điều này qua quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật tương trợ tư pháp của Việt Nam năm 2007: “Uy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài bị từ chối thực hiện nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Không phù hợp với diéu ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, các quy định của pháp luật Việt Nam; b).

d) Liên quan đến hành vi phạm tội đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam, đ) Liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật nhưng không cấu thành tội phạm theo quy 16 Chương lL. Những vấn đề chung định cua Bo luật hình sự Liệt Nam. Điều này còn được thê rõ trong Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với nhiều nước khác `` Một trong những nguyên tắc lập pháp cơ bản của nhà nước Việt Nam khi tham gia các quan hệ quốc tế là "nghiém chính tuân thu điều ước quốc té mà Cóng hoa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên" (khoan 6 Điều 3 Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005). Trong trường hợp việc thực hiện điều ước quốc tế đòi hỏi phải sửa đối, bố sung, huy bo hay ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, thi cơ quan dé xuất ký kết, tham gia điều ước và các cơ quan nhà nước hữu quan có trách nhiệm tự mình hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thấm quyên kịp thời sửa đổi, bố sung, huỷ bỏ hoặc ban hành văn ban (mới) dé bao đảm thực hiện điêu ước quốc tế.

Các nguyên tắc này không chỉ được ghi nhận trong pháp luật của Việt Nam mà nó luôn được tôn trọng và thực hiện day đủ trong quan hệ quốc tế của Nhà nước. Điều này được thê hiện rõ trong BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015. Cụ thê là: '“ Xem thêm: - Khoan 2 Điêu 63 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Cộng hoà Liên bang Nga năm 1998; - Diéu 27 Hiép dinh tuong tro tu pháp giữa Việt Nam va Cộng hoa nhân dân Trung Hoa năm 1998; - Điều 61 Hiệp định tương trợ ay Viét Nam va Lao nam 1998.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Sách chuyên khảo luật hình sự Việt Nam và điều ước quốc tế - Nguyễn Văn Hương chủ biên là một tài liệu chuyên sâu, tập trung phân tích và hệ thống hóa các quy định pháp luật hình sự Việt Nam trong mối tương quan với các điều ước quốc tế. Cuốn sách không chỉ cung cấp cái nhìn toàn diện về hệ thống pháp luật hình sự mà còn làm rõ cách thức Việt Nam tiếp nhận và nội luật hóa các cam kết quốc tế. Điều này giúp độc giả, đặc biệt là các nhà nghiên cứu, luật sư và sinh viên luật, hiểu sâu hơn về sự hài hòa giữa luật quốc gia và luật quốc tế, đồng thời nâng cao khả năng áp dụng pháp luật trong thực tiễn.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề pháp lý quốc tế và nội luật hóa, bạn có thể tham khảo thêm Bình luận về quyền của người khuyết tật theo công ước quốc tế và thực trạng nội luật hoá ở Việt Nam, một tài liệu sâu sắc về quyền con người và quá trình nội luật hóa tại Việt Nam. Ngoài ra, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật 2006 và vấn đề nội luật hoá trong pháp luật Việt Nam cũng là một nguồn tham khảo hữu ích để hiểu rõ hơn về quá trình này. Cuối cùng, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế đấu tranh phòng chống tội phạm rửa tiền sẽ mang đến góc nhìn thực tiễn về phòng chống tội phạm, một chủ đề liên quan mật thiết đến luật hình sự.

Mỗi tài liệu này là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các khía cạnh pháp lý, từ đó mở rộng hiểu biết và áp dụng vào công việc hoặc nghiên cứu của mình.