Chương I], Chương III và Chương V của cuốn sách này. 1] Luật hình sự Việt Nam với các điêu ước quốc tê Nam buộc phải có sự chuẩn bị các điều kiện cần thiết, đặc biệt là sự điều chỉnh về chính sách, pháp luật để có thé thực thi đầy đủ các cam kết quốc tế. Việc rà soát, sửa đôi, bố sung các quy định của pháp luật để bảo đảm sự hài hoà giữa pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế là việc không đơn giản, được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, và không thê thực hiện ngay trong thời gian ngắn ”. Tuy nhiên, trong những năm gan đây, cùng với việc tham gia hàng chục điêu ước quốc tế quan trọng, Việt Nam đã tiến hành sửa đối, bố sung và ban hanh mới hang chục van bản luật khác nhau.
Điều này đã chứng tỏ quyết tâm rất lớn của Việt Nam trong việc tích cực hội nhập quốc tế, cố gắng nỗ lực bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế của nhà nước. Dé bảo dam lợi ích của các quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế, bảo vệ quyền con người, ngăn chặn và dau tranh chống các hành vi phạm tội đang diễn ra rất nghiêm trọng trên toàn thế giới, các điều khoản về hình sự luôn được đặt ra, đặc biệt là các công ước của Liên hợp quốc về phòng, chống tội phạm. Việc gia nhập các điều ước quốc tế đòi hỏi các quốc gia trong đó có Việt Nam phải có hình thức thích hợp (thường là nội luật hoá) các điều khoản về hình sự để bảo đảm thực thi điều ước. Để thực hiện nghĩa '° Xem thêm: Chương III (từ Điều 31 đến Điều 80) Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
Những vẫn dé chung vụ cua quốc gia thành viên, Việt Nam trong những năm qua đã tích cực nội luật hoá các quy định về hình sự trong các điều ước, nhất là các công ước của Liên hợp quốc về phòng. chống tội phạm dé tạo sự hài hoa giữa pháp luật hình sự Việt Nam với quy định về hình sự trong các điều ước, bảo đảm thực thi các điêu ước quốc tế. Tuy nhiên, để nội luật hoá các điều khoản về hình sự trong các điều ước và thực thi điều ước, tạo điều kiện cho việc hợp tác quốc tế dau tranh chong tội phạm, chung ta cần rà soát, đánh giá tông thể về yêu cầu của điều ước cũng như khả năng đáp ứng của Việt Nam, từ đó xác định các yêu cầu cụ thé đối với việc sửa đổi, bô sung BLHS dé thực thi các điều ước quốc tế có hiệu quả. Việc ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế'', đồng thời nội luật hoá quy định trong các điều ước thành pháp luật trong nước, đặc biệt là các quy định về hình sự là yêu cầu và đòi hỏi khách quan đổi với Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Theo quy định tại Điều 3 Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, thì việc ký kết, gia nhập và !' Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chu nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chú nghĩa Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thé khác của pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác (Điều 2 Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005). 13 Luật hình sự Việt Nam với các điều ước quoc tê thực hiện điều ước quốc tế phải tuân thủ nhiều nguyên tắc, trong đó có nguyên tắc: “Phù hợp với các quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Điều 6 Luật này quy định: “7rong trưởng hợp văn bản quy phạm pháp luật va điêu ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau vé cùng một van dé thì áp dụng quy định của diéu ước quốc tế” (khoản 1); Điều luật này còn quy định: “Căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chat của diéu ước quốc tế, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phú khi quyết định chap nhận sự ràng buộc của điều ước quốc té đồng thời quyết định ap dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điêu ước quốc tế đó đối với cơ quan, tô chức, cá nhân trong trường hợp quy định cua điêu ước quốc tế đã đủ rõ, chỉ tiết dé thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đôi, bồ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật đề thực hiện điều ước quốc tế đó”(khoản 3). Theo quy định tại Điêu 2 BLHS năm 1999 quy định: “Chi người nào phạm mot tôi đã được Bo luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự"”'ˆ.
Như vay, các quy định về hình sự trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên để được thực hiện tại Việt Nam đòi hói phải được nội luật hoá thành pháp luật trong nước. Vì vậy, trừ một số điều khoản có thể bảo lưu thì việc hoàn thiện pháp luật nói '2 Quy định này từng được quy định tại Điều 2 BLHS năm 1985 và tiếp tục được quy định lại tại Điêu 2 BLHS năm 2015. Những van dé chung chung, BLHS nói riêng dé thực hiện các điêu ước quốc tê ma Việt Nam là thành viên là yêu câu bat buộc khi Việt Nam ky kêt, gia nhập các điều ước quốc te. Việt Nam hiện nay đã tham gia hàng trăm điều ước quốc tế thuộc nhiêu lĩnh vực khác nhau, trong đó có nhiều quy định của điều ước đòi hỏi phải được nội luật hoá, đặc biệt là các quy định về hình sự.
Dé bao đảm sự hai hoà, tương thích giữa pháp luật hình sự Việt Nam với quy định về hình sự trong các điều ước quốc tế, đáp ứng yêu cau dau tranh chống tội phạm có tính quốc tế, thì việc hoàn thiện pháp luật hình sự là rất cần thiết. Việc hoàn thiện pháp luật hình sự không chỉ là trách nhiệm của Việt Nam trong việc bao đảm thực hiện các cam kết quốc tế mà còn góp phân bảo đảm lợi ích của nhà nước, bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của tô chức và công dân trong quan hệ quốc tế; bảo vệ an ninh quốc gia đồng thời góp phan cùng cộng đồng quốc tê dau tranh chống tội phạm. Việc hoàn thiện BLHS Việt Nam là đòi hỏi khách quan của quá trình hội nhập quốc tê của Việt Nam hiện nay. KHÁI QUÁT THỰC TIEN XÂY DỰNG LUAT HÌNH SỰ VIỆT NAM TRONG SỰ THONG NHAT VỚI CAC DIEU UOC QUOC TE Đề đáp ứng yêu cầu dau tranh chỗng tội phạm trong tinh hình tội phạm có xu hướng toàn cầu hoá với nhiều loại tội 15 Luật hình sự Việt Nam với các điều ước quốc té phạm có tính nguy hiểm cao như: tội phạm về ma tuý, tội phạm mua bán người, tội phạm khủng bố quốc tế.
và bao đảm thực thi các điều khoản về hình sự trong các điều ước quốc tế, nhà nước Việt Nam đã ban hành các quy định mới, sửa đối, bố sung những quy định hiện có của BLHS. Việc nội luật hoá các quy định về hình sự trong các điều ước quốc tế, tạo cơ sở pháp lý cho Việt Nam và các nước có thể hợp tác hiệu quả trong việc dau tranh chồng tội phạm. Thực tiễn đấu tranh chống tội phạm, đặc biệt là các tội phạm có tô chức xuyên quốc gia cho thấy, Việt Nam và các nước chỉ có thể tương trợ hoặc tiếp nhận sự tương trợ tư pháp của các quốc gia, các tổ chức quốc tế trong việc bắt giữ, điều tra, dẫn độ xử lý hành vi phạm tội nếu pháp luật của các quốc gia (là các bên trong quan hệ hợp tác, tương trợ) có quy định tương thích (phù hợp ở mức độ nhất định) về hành vi phạm tội cần tương tro tư pháp. Chúng ta có thé thay rõ điều này qua quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật tương trợ tư pháp của Việt Nam năm 2007: “Uy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài bị từ chối thực hiện nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Không phù hợp với diéu ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, các quy định của pháp luật Việt Nam; b).
d) Liên quan đến hành vi phạm tội đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam, đ) Liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật nhưng không cấu thành tội phạm theo quy 16 Chương lL. Những vấn đề chung định cua Bo luật hình sự Liệt Nam. Điều này còn được thê rõ trong Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với nhiều nước khác `` Một trong những nguyên tắc lập pháp cơ bản của nhà nước Việt Nam khi tham gia các quan hệ quốc tế là "nghiém chính tuân thu điều ước quốc té mà Cóng hoa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên" (khoan 6 Điều 3 Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005). Trong trường hợp việc thực hiện điều ước quốc tế đòi hỏi phải sửa đối, bố sung, huy bo hay ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, thi cơ quan dé xuất ký kết, tham gia điều ước và các cơ quan nhà nước hữu quan có trách nhiệm tự mình hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thấm quyên kịp thời sửa đổi, bố sung, huỷ bỏ hoặc ban hành văn ban (mới) dé bao đảm thực hiện điêu ước quốc tế.
Các nguyên tắc này không chỉ được ghi nhận trong pháp luật của Việt Nam mà nó luôn được tôn trọng và thực hiện day đủ trong quan hệ quốc tế của Nhà nước. Điều này được thê hiện rõ trong BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015. Cụ thê là: '“ Xem thêm: - Khoan 2 Điêu 63 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Cộng hoà Liên bang Nga năm 1998; - Diéu 27 Hiép dinh tuong tro tu pháp giữa Việt Nam va Cộng hoa nhân dân Trung Hoa năm 1998; - Điều 61 Hiệp định tương trợ ay Viét Nam va Lao nam 1998.