phần Mở đầu của Hiến chương Liên hợp quốc (1945) nêu rõ, các nước thành viên: “khẳng định lại sự tin tưởng vào những quyên cơ bản của con người, vào nhân phẩm và giá trị của con người, vào quyên bình dang giữa nam và nữ và giữa các quốc gia lớn nhỏ”. Điều 1(2) và (3) của Hiến chương quy định, mục dich của Liên hợp quốc là, “phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đăng và tự quyết của các dân tộc” và “thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa, hoặc nhân đạo, và trong việc khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền của con người và các quyền tự đo cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hoặc tôn giáo”. Đặc biệt, Điều 2(1) của Hiến chương khăng định rõ ràng rằng, Liên hợp 5 Paul Gordon Lauren, Power and Prejudice — The Politics and Diplomacy of Racial Discrimination, 2" edition.99-100, va trong van dé chung về phân biệt chủng tộc, Chapter 3 về “Racial Equality Requested — and Rejected”. 7 Keba Mbaye, “ARTICLE 2, Paragraph 1”, La Charte des Nations Unies — Commentaire article par article, 2" edition, Jean-Pierre Cot and Alain Pellet, eds.
được xây dựng dựa trên nguyên tắc bình đăng chủ quyền của tất cả các thành viên”. Nguyên tắc không phân biệt đối xử cũng được tái khang định trong các Điều 13(1)(b), 55(c) và 76(c) Hiến chương trong đó nêu rằng hòa bình và an ninh quốc tế phụ thuộc rất lớn vào “su tôn trọng và tuân thủ phổ quát các quyền con người và các tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ, hay tôn giáo”. Nói tóm lại, Hién chương Liên hợp quốc dé cập đến sự bình đăng, không phân biệt đối xử không chỉ giữa các cá nhân mà giữa các quốc gia, trong đó chú trọng các van dé cụ thé như chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ và tôn giáo, và xem đó như là một nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế. Tuy nhiên, bài viết này chỉ tập trung phân tích vẫn dé quyền bình đăng, không phân biệt đối xử giữa các cá nhân theo luật nhân quyền quốc tế.
Quyền bình dang, không phân biệt đối xử giữa các cá nhân đã được khang định ngay trong rất nhiều văn kiện của luật nhân quyền quốc tế, từ những văn kiện đầu tiên và có tính chất nền tảng như Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (UDHR) năm 1948, các Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá (ICESCR) 1966, cho đến rất nhiều văn kiện quốc tế khác về quyền con người của các nhóm xã hội khác nhau. Dưới đây khái quát các quy định có liên quan trong những văn kiện quan trọng nhất. Tuyên ngôn toàn thé giới về nhân quyên (UDHR, 1948) Dé hiện thực hoá nguyên tắc cam phân biệt đối xử trong Hiến chương, Liên hợp quốc đã đưa vấn đề này vào trong nhiều văn kiện nhân quyền quốc tế, mà đầu tiên là Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền (UDHR) năm 1948 và sau đó là Công ước về ngăn ngừa và trừng phạt tội ác diệt chủng (cùng được thông qua năm 1948). Đây được xem là một bước ngoặt mới trong việc củng cô nguyên tắc pháp lý quốc tế về sự bình đăng giữa các cá nhân và về cam phân biệt đối xử giữa người với người.
Điều 1 của UDHR tuyên bố rang “Mọi người đều sinh ra tự do và bình dang về nhân phẩm và các quyền”.