Kỷ yếu hội thảo khoa học cấp trường: Pháp luật quốc tế và chống phân biệt đối xử

Kỷ yếu hội thảo khoa học cấp trường về pháp luật quốc tế và chống phân biệt đối xử, phân tích sâu các quy định pháp lý và thực tiễn áp dụng.

Chuyên ngành

Luật quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

hội thảo khoa học

2019

286
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỤC LỤC

1. CHUYÊN ĐỀ CHUNG

1.1. Quyền bình đẳng, chống phân biệt đối xử trong luật quốc tế

1.2. Các biện pháp chống phân biệt đối xử mang tính toàn cầu và thực tiễn Việt Nam — nhìn từ pháp luật quốc tế về quyền con người

1.3. Không phân biệt đối xử - nguyên tắc cốt lõi để bảo vệ quyền con người trong pháp luật quốc tế và khu vực

2. CHUYÊN ĐỀ CỤ THỂ

2.1. Pháp luật quốc tế và một số quốc gia về chống phân biệt đối xử với trẻ em

2.2. Pháp luật quốc tế và một số quốc gia về chống phân biệt đối xử với trẻ em phạm tội

2.3. Pháp luật quốc tế và một số quốc gia về chống phân biệt đối xử với phụ nữ

2.4. Pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về chống phân biệt đối xử với nhóm LGBT

2.5. Pháp luật quốc tế và pháp luật một số quốc gia về bạo lực trên cơ sở giới

2.6. Pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về chống phân biệt đối xử với người khuyết tật

2.7. Pháp luật quốc tế và một số quốc gia về chống phân biệt đối xử với người có HIV

2.8. Pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về chống phân biệt đối xử với người dân tộc thiểu số

2.9. Pháp luật quốc tế và một số quốc gia về chống phân biệt đối xử đối với lao động di cư

2.10. Pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về chống phân biệt đối xử với người chấp hành án phạt tù

2.11. Pháp luật quốc tế và pháp luật một số quốc gia về chống phân biệt đối xử vì lí do tôn giáo, tín ngưỡng

2.12. Pháp luật quốc tế và một số quốc gia về chống phân biệt đối xử với người tị nạn

3. QUYỀN BÌNH ĐẲNG, CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ TRONG LUẬT QUỐC TẾ

3.1. Khái niệm bình đẳng, kỳ thị và phân biệt đối xử

3.2. Quy định về quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong luật nhân quyền quốc tế

3.2.1. Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền (UDHR, 1948)

3.2.2. Công ước về ngăn ngừa và trừng phạt tội ác diệt chủng (CAT, 1948)

3.2.3. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR, 1966)

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Hội thảo khoa học pháp luật quốc tế

Hội thảo khoa học pháp luật quốc tế về chống phân biệt đối xử diễn ra vào ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại Trường Đại học Luật Hà Nội. Sự kiện này tập trung vào việc thảo luận các vấn đề liên quan đến pháp luật quốc tế và các biện pháp chống phân biệt đối xử trong bối cảnh toàn cầu. Các diễn giả đã trình bày nhiều chuyên đề khác nhau, từ quyền con người đến các chính sách pháp luật cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi của các nhóm yếu thế trong xã hội. Hội thảo không chỉ là nơi chia sẻ kiến thức mà còn là cơ hội để các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên trao đổi ý tưởng và kinh nghiệm trong lĩnh vực này.

1.1. Mục tiêu của hội thảo

Mục tiêu chính của hội thảo là nâng cao nhận thức về quyền con ngườibảo vệ quyền lợi cho các nhóm dễ bị tổn thương. Các diễn giả đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng một môi trường pháp lý công bằng, nơi mọi người đều có cơ hội bình đẳng. Hội thảo cũng nhằm thúc đẩy hợp tác quốc tế trong việc chống lại phân biệt đối xử, từ đó tạo ra một xã hội công bằng và bình đẳng hơn.

II. Các chuyên đề chính được thảo luận

Hội thảo đã đề cập đến nhiều chuyên đề quan trọng, trong đó có các biện pháp chống phân biệt đối xử mang tính toàn cầu và thực tiễn tại Việt Nam. Các diễn giả đã phân tích các khía cạnh khác nhau của pháp luật quốc tế liên quan đến quyền con người, từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm cải thiện tình hình hiện tại. Một trong những điểm nổi bật là việc thảo luận về các mô hình bình đẳngkỳ thị, cũng như mối liên hệ giữa chúng với phân biệt đối xử.

2.1. Phân tích các mô hình bình đẳng

Các mô hình bình đẳng được thảo luận bao gồm mô hình bình đẳng hình thức, mô hình bảo vệ và mô hình thực chất. Mô hình thực chất được coi là phù hợp nhất, vì nó không chỉ đảm bảo quyền lợi cho các nhóm yếu thế mà còn tạo điều kiện cho họ tiếp cận các cơ hội như những nhóm khác. Điều này cho thấy rằng việc bảo vệ quyền lợi cho các nhóm yếu thế không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là nghĩa vụ của toàn xã hội.

III. Đánh giá giá trị và ứng dụng thực tiễn

Hội thảo đã mang lại nhiều giá trị thiết thực cho việc nghiên cứu và thực thi pháp luật quốc tế về chống phân biệt đối xử. Các ý kiến và giải pháp được đưa ra không chỉ có tính lý thuyết mà còn có thể áp dụng vào thực tiễn. Việc xây dựng các chính sách pháp luật phù hợp sẽ giúp bảo vệ quyền lợi cho các nhóm dễ bị tổn thương, từ đó góp phần xây dựng một xã hội công bằng hơn. Hội thảo cũng khuyến khích các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu và phát triển các giải pháp mới nhằm nâng cao hiệu quả của các biện pháp chống phân biệt đối xử.

3.1. Tác động đến chính sách pháp luật

Các kết quả từ hội thảo có thể ảnh hưởng đến việc xây dựng và điều chỉnh các chính sách pháp luật tại Việt Nam. Việc áp dụng các khuyến nghị từ hội thảo sẽ giúp cải thiện tình hình bình đẳng xã hội và giảm thiểu phân biệt đối xử trong các lĩnh vực như giáo dục, việc làm và chăm sóc sức khỏe. Điều này không chỉ có lợi cho các nhóm yếu thế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu của Hiến chương Liên hợp quốc (1945) nêu rõ, các nước thành viên: “khẳng định lại sự tin tưởng vào những quyên cơ bản của con người, vào nhân phẩm và giá trị của con người, vào quyên bình dang giữa nam và nữ và giữa các quốc gia lớn nhỏ”. Điều 1(2) và (3) của Hiến chương quy định, mục dich của Liên hợp quốc là, “phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đăng và tự quyết của các dân tộc” và “thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa, hoặc nhân đạo, và trong việc khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền của con người và các quyền tự đo cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hoặc tôn giáo”. Đặc biệt, Điều 2(1) của Hiến chương khăng định rõ ràng rằng, Liên hợp 5 Paul Gordon Lauren, Power and Prejudice — The Politics and Diplomacy of Racial Discrimination, 2" edition.99-100, va trong van dé chung về phân biệt chủng tộc, Chapter 3 về “Racial Equality Requested — and Rejected”. 7 Keba Mbaye, “ARTICLE 2, Paragraph 1”, La Charte des Nations Unies — Commentaire article par article, 2" edition, Jean-Pierre Cot and Alain Pellet, eds.

được xây dựng dựa trên nguyên tắc bình đăng chủ quyền của tất cả các thành viên”. Nguyên tắc không phân biệt đối xử cũng được tái khang định trong các Điều 13(1)(b), 55(c) và 76(c) Hiến chương trong đó nêu rằng hòa bình và an ninh quốc tế phụ thuộc rất lớn vào “su tôn trọng và tuân thủ phổ quát các quyền con người và các tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ, hay tôn giáo”. Nói tóm lại, Hién chương Liên hợp quốc dé cập đến sự bình đăng, không phân biệt đối xử không chỉ giữa các cá nhân mà giữa các quốc gia, trong đó chú trọng các van dé cụ thé như chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ và tôn giáo, và xem đó như là một nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế. Tuy nhiên, bài viết này chỉ tập trung phân tích vẫn dé quyền bình đăng, không phân biệt đối xử giữa các cá nhân theo luật nhân quyền quốc tế.

Quyền bình dang, không phân biệt đối xử giữa các cá nhân đã được khang định ngay trong rất nhiều văn kiện của luật nhân quyền quốc tế, từ những văn kiện đầu tiên và có tính chất nền tảng như Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (UDHR) năm 1948, các Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá (ICESCR) 1966, cho đến rất nhiều văn kiện quốc tế khác về quyền con người của các nhóm xã hội khác nhau. Dưới đây khái quát các quy định có liên quan trong những văn kiện quan trọng nhất. Tuyên ngôn toàn thé giới về nhân quyên (UDHR, 1948) Dé hiện thực hoá nguyên tắc cam phân biệt đối xử trong Hiến chương, Liên hợp quốc đã đưa vấn đề này vào trong nhiều văn kiện nhân quyền quốc tế, mà đầu tiên là Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền (UDHR) năm 1948 và sau đó là Công ước về ngăn ngừa và trừng phạt tội ác diệt chủng (cùng được thông qua năm 1948). Đây được xem là một bước ngoặt mới trong việc củng cô nguyên tắc pháp lý quốc tế về sự bình đăng giữa các cá nhân và về cam phân biệt đối xử giữa người với người.

Điều 1 của UDHR tuyên bố rang “Mọi người đều sinh ra tự do và bình dang về nhân phẩm và các quyền”. Điều 2 của văn kiện quy định chi tiết hơn: “Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền va tự do nêu trong bản Tuyên ngôn này mà không có bat kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay các địa vị khác. Ngoài ra, cũng không có bất cứ sự phân biệt nào với một người mà dựa trên địa vị chính trị, pháp lý quốc tế của quốc gia hoặc lãnh thổ ma người đó xuất thân, dù đó là lãnh thổ độc lập, ủy tri, quản thác, chưa được tự quản hay đang phải chịu bất kỳ hạn chế nào khác về chủ quyền”. Đáng chú ý trong quy định tại Điều 2 UDHR là cụm từ “bat cứ sự phân biệt nào”.

Quy định này có thé dẫn đến cách hiểu là không có bắt cứ sự khác biệt nào có thê được chấp nhận về mặt pháp lý. Tuy nhiên cách giải thích đó bị xem là không hợp lý. Như đã đề cập, theo các cơ quan nhân quyền quốc tế, trong trường hợp sự đối xử khác biệt là cần thiết dé bảo đảm quyền bình đăng thực sự cho một nhóm hay cá nhân nào đó thì sẽ không bị xem là sự phân biệt đối xử. Cũng liên quan đến quyền bình đẳng, Điều 7 UDHR quy định: “Mọi người đều bình dang trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đăng mà không có bất kỳ sự phân biệt nào.

Mọi người đều có quyền được bảo vệ một cách bình đắng chống lại bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vi phạm bản Tuyên ngôn này, và chống lại bất kỳ sự kích động phân biệt đối xử nào như vậy”. Công ước về ngăn ngừa và trừng phạt tội ác diệt chúng (CAT) 1948 Diệt chủng được xem là sự phủ nhận tột cùng không chỉ quyền sông mà cả quyền bình đăng của con người. Vì vậy, ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng cũng đồng nghĩa với việc bảo vệ quyên bình đăng và chống phân biệt đối xử. Về van dé này, Điều I CAT quy định rõ: “Các bên ký kết khang định rằng, hành động diệt chủng, bất kế được thực hiện trong thời bình hay thời chiến, đều là tội ác theo luật pháp quốc tế mà các bên cam kết sẽ ngăn chặn và trừng trị”.

Điều II(a)-(e) liệt kê những hành vi được coi là diệt chủng, như [vi phạm] “nhằm cố ý tiêu diệt, toàn bộ hay một bộ phận, một nhóm dân tộc, chủng tộc, sắc tộc hay tôn giáo”. Những hành VI này gồm: Giết các thành viên của nhóm; Gây ton hại nghiêm trọng về thê xác hoặc tinh thần cho các thành viên của nhóm; Cố ý bắt nhóm phải chịu các điều kiện sống dẫn đến hủy diệt về mặt thê chất của toàn bộ hoặc một bộ phận thành viên của nhóm; Cố y ap đặt những biện pháp nhằm ngăn chặn sự sinh đẻ trong nhóm; Cưỡng bức chuyền giao trẻ em của nhóm sang một nhóm khác. Theo Điều III(a)-(e) của Công ước, những hành vi sau đây đều bị trừng phạt: Diệt chủng; Am mưu phạm tội diệt chủng; Trực tiếp và công khai kích động hành vi diệt chủng; Cố tình phạm tội diệt chủng nhưng chưa đạt; Đồng phạm tội diệt chủng. Bên cạnh CAT, một định nghĩa tương tự về thuật ngữ diệt chủng cũng được nêu trong Điều 6 của Quy chế Rome về Tòa án hình sự quốc tế (ICC), Điều 4(2) của Quy chế của Tòa án hình sự quốc tế về Nam Tư cũ và Điều 2(2) của Quy chế của Tòa án hình sự quốc tế về Rwanda.

Mặc dù diệt chủng là hành vi đã bị ngăn cấm từ lâu trong luật nhân quyền quốc tế, song phải đến ngày 2/8/2001, trong vụ việc Radislav Krstic, Tòa án hình sự quốc tế về Nam Tư cũ mới tuyên bố một người phạm tội ác này. Radislav Krstic bị tuyên đã phạm tội diệt chủng sau sự sụp đô của Srebrenica ở Bosnia và Herzego-vina vào tháng 7/1995.8 Ông ta cũng bị kết án vì những tội phạm nghiêm trọng khác như giết người, và nhận án phạt tù 46 năm. Tiếp theo Radislav Krstic, ngày 16 tháng 11 2018, Toa án Kho me Đỏ đã tuyên bố hai người khác phạm tội diệt chủng, đó là Nuon Chea (92 tuổi, Phó tổng bí thư Đảng Cộng sản Campuchia, cấp dưới của Pol Pot), và Khieu Samphan (87 tuổi, Chủ tịch Nước Campuchia Dân chủ, được coi là cánh tay phải và phó tư lệnh của Pol Pot)’. Công ước quốc tế về các quyền dân sự va chính trị (ICCPR, 1966) Quyền bình đăng, không bị phân biệt đối xử được bảo vệ trong nhiều điều khoản khác nhau của ICCPR.!° Đầu tiên, Điều 2(1) ICCPR quy định, các quốc gia thành viên Công ước: “cam kết tôn trọng và bảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thâm quyên tài phán của mình các quyền đã được công nhận trong Công ước này, không có bat kỳ sự phân biệt nào như về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn sốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác”.

Điều 26 Công ước dé cập chi tiết hon, và được xem là nền tảng bảo vệ chống lại sự phân biệt đối xử theo Công ước. Nó quy định: “Moi người đều bình đăng trước pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đắng mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào. Về mặt này, pháp luật phải nghiêm cắm mọi sự phân biệt đối xử và đảm bảo cho mọi người sự bảo hộ bình đăng và có hiệu quả chống lại những phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn sốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác”. Như vậy, ở đây, khác với Điều 2(1) chỉ đề cập đến các quyền được thừa nhận trong Công ước, Điều 26 ICCPR quy định quyền bình dang va “cắm phân biệt đối xử trong pháp luật hoặc trên thực tế trong bất cứ lĩnh vực nào được quy định và bảo vệ bởi các cơ quan công quyén”.!! Đi vào các van dé chi tiết, Điều 20(2) ICCPR đặt ra nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên phải nghiêm cam, bang pháp luật, bat cứ “chủ trương gây han thù dân tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo dé kích động sự phân biệt đối xử về chủng tộc, sự thù địch, hoặc bạo lực”.

Trong khi đó, Điều 3 ICCPR nhắn mạnh, các quốc gia thành viên “cam kết đảm bảo quyên bình đăng giữa nam và nữ trong việc thực hiện tat cả các quyên dân sự 8 Về nội dung của phán quyết, xem: http://www.org/icty/krstic/TrialC1/judgement/ ? BBC Vietnamese, 16 tháng 11 2018, Hai cựu lãnh dao Khmer Đỏ bị kết tội diệt chủng, https://www.com/vietnamese/world-4623 1790 '0 Xem: Bình luận chung số 18 của Uỷ ban Nhân quyền (UN Human Rights Committee (HRC), CCPR General Comment No. 18: Non-discrimination, 10 November 1989, available at: https://www.org/docid/453883fa8.html !! Xem: Bình luận chung số 18 của HRC, tài liệu đã dẫn, đoạn 12.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Hội thảo khoa học pháp luật quốc tế về chống phân biệt đối xử là một sự kiện quan trọng, tập trung vào việc thảo luận và phân tích các vấn đề liên quan đến luật pháp quốc tế trong việc ngăn chặn và chống lại sự phân biệt đối xử. Tài liệu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp lý hiện hành mà còn nêu bật những thách thức và cơ hội trong việc thực thi các chính sách chống phân biệt. Độc giả sẽ được trang bị kiến thức cần thiết để hiểu rõ hơn về vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ quyền lợi của các nhóm dễ bị tổn thương, từ đó nâng cao nhận thức và khả năng áp dụng các biện pháp hiệu quả.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Khóa luận tốt nghiệp law on confiscation of proceeds of crime in a comparative perspective england and vietnam, nơi so sánh các quy định về tịch thu tài sản từ tội phạm giữa Anh và Việt Nam, hoặc Luận văn thạc sĩ luật học so sánh pháp luật về hợp đồng giữa việt nam và trung quốc, giúp bạn hiểu rõ hơn về sự khác biệt trong pháp luật hợp đồng giữa hai quốc gia. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ luật học pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển và thực tiễn của việt nam cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý tài nguyên trong bối cảnh pháp luật quốc tế. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá thêm nhiều khía cạnh thú vị trong lĩnh vực pháp luật quốc tế.