Quyền của người khuyết tật theo công ước quốc tế và thực trạng nội luật hóa ở Việt Nam - Phần 2

Bài viết phân tích quyền người khuyết tật theo công ước quốc tế và thực trạng nội luật hóa tại Việt Nam, do Nguyễn Hiền Phương chủ biên.

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

bài viết

2017

205
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN GIÁO DỤC CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT

1.1. Khái niệm và nguyên tắc cơ bản

1.2. Cơ sở pháp lý quốc tế và Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUYỀN GIÁO DỤC CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM

2.1. Chính sách và pháp luật liên quan

2.2. Thực trạng tiếp cận giáo dục của người khuyết tật

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO QUYỀN TIẾP CẬN GIÁO DỤC CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT

3.1. Tăng cường chính sách và pháp luật

3.2. Phát triển giáo dục hòa nhập

Tóm tắt

I. Quyền người khuyết tật theo công ước quốc tế

Quyền người khuyết tật được công nhận và bảo vệ bởi Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền của Người Khuyết tật (CRPD). Công ước này khẳng định người khuyết tật được hưởng đầy đủ các quyền con ngườiquyền tự do cơ bản, thúc đẩy sự tôn trọng phẩm giá vốn có của họ. CRPD được áp dụng theo 8 nguyên tắc, bao gồm tôn trọng phẩm giá, không phân biệt đối xử, và sự hòa nhập xã hội. Điều 24 CRPD nhấn mạnh quyền được giáo dục của người khuyết tật, yêu cầu các quốc gia đảm bảo cơ hội học tập bình đẳng ở mọi cấp và hình thức giáo dục.

1.1. Nguyên tắc cơ bản của CRPD

CRPD dựa trên các nguyên tắc như tôn trọng phẩm giá, tự chủ cá nhân, không phân biệt đối xử, và sự tham gia đầy đủ vào xã hội. Công ước cũng nhấn mạnh sự bình đẳng về cơ hội, tiếp cận, và tôn trọng khả năng phát triển của trẻ khuyết tật. Những nguyên tắc này tạo nền tảng cho việc thực thi quyền của người khuyết tật trên toàn cầu.

1.2. Quyền giáo dục trong CRPD

Điều 24 CRPD quy định các quốc gia phải đảm bảo người khuyết tật không bị loại khỏi hệ thống giáo dục phổ thông. Giáo dục hòa nhập được coi là phương tiện duy nhất để đảm bảo quyền học tập của người khuyết tật. Các quốc gia cần cung cấp các biện pháp hỗ trợ cá nhân hóa và tạo điều kiện hợp lý để người khuyết tật tiếp cận giáo dục chất lượng.

II. Nội luật hóa tại Việt Nam

Việt Nam đã nội luật hóa các quy định của CRPD thông qua Luật Người khuyết tật năm 2010. Luật này ghi nhận quyền của người khuyết tật trong tiếp cận dịch vụ và hòa nhập xã hội trên cơ sở bình đẳng. Việt Nam cũng ban hành các chính sách hỗ trợ người khuyết tật, bao gồm giáo dục hòa nhập và các chương trình đào tạo chuyên biệt. Hiến pháp 2013 và các văn bản pháp luật khác như Luật Trẻ em 2016Luật Giáo dục 2019 đều có quy định cụ thể về quyền giáo dục của người khuyết tật.

2.1. Luật Người khuyết tật năm 2010

Luật Người khuyết tật năm 2010 là bước tiến quan trọng trong việc bảo vệ quyền của người khuyết tật tại Việt Nam. Luật này thay thế Pháp lệnh về Người tàn tật năm 1998, thể hiện sự chuyển đổi từ cách tiếp cận từ thiện sang cách tiếp cận dựa trên quyền con người. Luật quy định các biện pháp hỗ trợ người khuyết tật trong giáo dục, việc làm, và hòa nhập xã hội.

2.2. Chính sách giáo dục hòa nhập

Việt Nam đã triển khai nhiều chính sách giáo dục hòa nhập cho người khuyết tật, bao gồm việc điều chỉnh chương trình học, cung cấp phương tiện hỗ trợ, và đào tạo giáo viên chuyên biệt. Các văn bản như Thông tư liên tịch số 58/2012Thông tư liên tịch số 42/2013 là cơ sở pháp lý để thực hiện các chính sách này.

III. Thực thi quyền và hòa nhập xã hội

Việc thực thi quyền của người khuyết tật tại Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục và hòa nhập xã hội. Các chương trình hỗ trợ người khuyết tật được triển khai rộng rãi, từ giáo dục hòa nhập đến đào tạo nghề. Tổ chức phi chính phủ và các cơ quan nhà nước đã phối hợp để thúc đẩy sự tham gia của người khuyết tật vào các hoạt động xã hội.

3.1. Vai trò của tổ chức phi chính phủ

Các tổ chức phi chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người khuyết tật tại Việt Nam. Họ thực hiện các chương trình giáo dục, đào tạo nghề, và nâng cao nhận thức cộng đồng về quyền của người khuyết tật. Sự hợp tác giữa các tổ chức này và chính phủ đã góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của người khuyết tật.

3.2. Hòa nhập xã hội và phát triển bền vững

Hòa nhập xã hội là mục tiêu quan trọng trong các chính sách hỗ trợ người khuyết tật. Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình nhằm tăng cường sự tham gia của người khuyết tật vào các hoạt động kinh tế, xã hội. Điều này không chỉ giúp người khuyết tật phát triển bản thân mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.

21/02/2025
Bình luận về quyền của người khuyết tật theo công ước quốc tế và thực trạng nội luật hoá ở việt nam nguyễn hiền phương chủ biên nguyễn thị kim ngân phần 2

Trích đoạn nội dung tài liệu

người khuyết tat được hưởng đầy đủ, bình dang tất ca quyền con người, quyền tự do cơ bản, thúc đẩy sự tôn trọng phẩm giá vốn có của họ. Công ước được áp dụng theo 8 nguyên tắc bao gồm tôn trọng phẩm giá vốn có, sự tự chủ của cá nhân; không phân biệt đối xử: sự tham gia đầy đủ, hiệu qua, hòa nhập với xã hội; tôn trọng và chấp nhận người khuyết tật như một phần của sự đa dạng của nhân loại và nhân văn; bình đẳng về cơ hội; tiếp cận; bình đẳng giữa nam và nữ; tôn trọng những khả năng đang phát triển của trẻ khuyết tật, quyền của trẻ khuyết tật được bảo vệ nét riêng biệt của mình. Trước đây, tại khoản 1 Điều 26 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) đã khẳng định: “Mọi người đều có quyền được giáo dục. Giáo dục phải miễn phí, ít nhất là 6 giai đoạn học tiểu học và cơ sở.

Giáo dục tiểu hoc là bắt buộc.” Quyền được giáo dục này cũng được thừa nhận tại khoản 1 Điều 13 - ICESCR: “Các quốc gia thành viên công ước thừa nhận quyền của mọi người được học tập. Trên tinh thần đó, nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục đối với người khuyết tật, CRPD khi ra đời đã yêu cầu các quốc gia phải đảm bảo cơ hội học tập bình dang cho NKT ở mọi cấp và mọi hình thức cũng như việc trợ giúp cho người khuyết tật có những phương tiện, cơ sở, vật chất, công nghệ và phương pháp giáo giáo dục thích hợp. Điều này cũng đồng nghĩa với việc không được tách NKT ra khỏi hệ thống chung của pháp luật quốc gia cũng như không được tước bỏ quyền được giáo dục tiểu học miễn phí của trẻ em khuyết tật. Giáo dục 205 với NKT cần trên cơ sở hoà nhập, có những điều chỉnh phù hợp với nhu cầu của người khuyết tật.

Cụ thể, Điều 24 CRPD có ghi nhận: Quốc gia thành viên thừa nhận quyền được giáo dục của người khuyết tật. Để hướng tới biến quyền này thành hiện thực, các quốc gia thành viên phải bao dam hệ thống giáo duc ở mọi cấp và học tập suốt đời cho người khuyết tật cùng với người không khuyết tật trên cơ cơ sở bình đẳng về cơ hội, sự giáo dục này có định hướng: a. Phát triển trọn vẹn năng lực tiềm tàng của con người, nhận thức về nhân cách và phẩm giá, củng cố sự tôn trọng quyền con người, các tự do cơ bản và tính đa dạng của loài người; b. Phát triển trọn vẹn tiém năng về tinh cách, tài năng, sang tạo, cũng như những năng lực thể chất và tinh thần của người khuyết tật: c.

Tạo điều kiện cho người khuyết tật tham gia hiệu quả vào xã hội tự do. Trong khi biến quyền này thành hiện thực, quốc gia thành viên phải bao dam: a. Người khuyết tật không bị loại khỏi hệ thống giáo dục phổ thông trên cơ sở sự khuyết tật, và trẻ em khuyết tật không bị loại khỏi giáo dục tiểu học bắt buộc, hoặc giáo dục trung học, trên cơ sở sự khuyết tật; b. Người khuyết tật có thể tiếp cận giáo dục tiểu học và trung học cơ sở có chất lượng tốt và miễn phí trên cơ sở bình đẳng với những người khác trong cùng cộng đồng mà họ sinh sống; c.

Tạo điều kiện hợp lý cho người khuyết tật trên cơ sở nhu cầu cá nhân; d. Người khuyết tật được nhận sự trợ giúp cần thiết trong hệ thống giáo dục phổ thông để được giáo dục hiệu quả; e. Cung cấp các biện pháp trợ 206 giúp cá biệt hóa có hiệu qua, trong môi trường thể hiện sự phát triển xã hội và khoa học kỹ thuật cao nhất, phù hợp với mục đích hoà nhập trọn vẹn. Các quốc gia thành viên tạo điều kiện cho người khuyết tật học tập những kỹ năng phát triển đời sống và xã hội để tạo thuận lợi cho họ tham gia giáo dục một cách trọn vẹn và bình dang, với tư cách thành viên của cộng đồng.

Để đạt được mục đích này, quốc gia thành viên tiến hành các biện pháp thích hợp, trong đó có: a. Tạo thuận lợi cho việc học chữ Braille, chữ viết thay thế, các cách thức, phương tiện và dạng giao tiếp hoặc định hướng tăng cường hoặc thay thé. kỹ năng di chuyển, và khuyến khích hỗ trợ đồng đẳng và hỗ trợ của chuyên gia; b. Tạo thuận lợi cho việc học ngôn ngữ ký hiệu và khuyến khích phát triển ban sắc ngôn ngữ của cộng đồng người khiếm thính; c.

Bảo đảm giáo dục người khiếm thị, khiếm thính hoặc vừa khiếm thính vừa khiếm thị bằng những ngôn ngữ, cách thức và phương tiện giao tiếp thích hợp nhất cho người đó, và trong những môi trường thể hiện sự phát triển xã hội và khoa học kỹ thuật cao nhất. Để bao dam biến quyền này thành hiện thực, các quốc gia thành viên phải tiến hành những biện pháp thích hợp để tuyển dụng giáo viên, trong đó có giáo viên khuyết tật, có trình độ về ngôn ngữ ký hiệu và/hoặc chữ Braille, đào tạo chuyên gia và nhân viên ở mọi cấp giáo dục. Sự đào tạo này phải bao gồm nâng cao nhận thức về người khuyết tật và su dụng các cách thức, phương tiện và dạng giao tiếp tăng cường hoặc thay thế, kỹ thuật và cơ sở vật chất 207 giáo dục để hỗ trợ người khuyết tật. Cùng với đó, các quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng người khuyết tật có thể tiếp cận giáo dục phổ thông cấp ba, dạy nghề, bổ túc và học tập suốt đời mà không có sự phân biệt nào và trên cơ sở bình đẳng với những người khác.

Để đạt được mục đích này, quốc gia thành viên sẽ bảo đảm tạo điều kiện hợp lý cho người khuyết tật. Có thể nhận thấy rằng, công ước LHQ về Quyền người khuyết tật (CRPD) năm 2006 khẳng định, người khuyết tật cần được đảm bảo quyền giáo dục hoà nhập ở các cấp, bất kể tuổi tác, không phân biệt đối xử và trên cơ sở bình đẳng về cơ hội. Các quốc gia thành viên cần đảm bảo rằng: “Người khuyết tật không bị loại khỏi hệ thống giáo dục phổ thông vì lý do khuyết tật, và trẻ em khuyết tật không bị loại khỏi giáo dục tiểu học bắt buộc, hoặc giáo dục trung học, trên cơ sở sự khuyết tật” và “Người khuyết tật có thể tiếp cận giáo dục hòa nhập tiểu học và trung học cơ số, có chất lượng và miễn phí trên cơ sở bình đẳng với những người khác trong cùng cộng đồng mà họ sinh sống Bên cạnh đó, CRPD đã ràng buộc pháp lý đối với khái niệm “giao dục hòa nhập”, được công nhận là phương tiện duy nhất để đảm bảo quyền được học tập - với tính cách là một quyền con người, cho tất cả học sinh, kể cả người khuyết tat. Bởi lẽ, việc loại trừ hoặc ngăn can bất kỳ một ai đó ra khỏi hệ thống giáo dục phổ thông, dù họ có thể được học riêng, đều là một sự vi phạm quyền được học tập của họ.

Nói cách khác, CRPD đưa đến một cách nhìn mới về quyền tiếp cận giáo dục hay quyền được học tập, thực 208 ra là quyền tiếp cận giáo dục hòa nhập. Để thực hiện quyền tiếp cận giáo dục hòa nhập, CRPD quy định các quốc gia phải tạo điều kiện hợp lý cho người khuyết tật trên cơ sở nhu cầu cá nhân người khuyết tật; cung cấp trợ giúp cần thiết trong hệ thống giáo dục phổ thông để được giáo dục hiệu quả; cung cấp các biện pháp trợ giúp cá biệt hóa có hiệu quả, trong môi trường thể hiện sự phát triển xã hội và khoa học kỹ thuật cao nhất, phù hợp với mục đích hoà nhập trọn vẹn”. Công ước về quyền của người khuyết tật được xem là một bước tiến quốc tế quan trọng trong việc tuyên bố và bảo vệ quyền của mọi người khuyết tật, và nó đã đưa vấn dé khuyết tat từ một cách nhìn từ thiện sang cách nhìn dựa vào nhân quyền hơn bao giờ hết. Bằng việc ký kết CRPD, Chính phủ Việt Nam đã thể hiện quan điểm của mình về khuyết tật, rằng khuyết tật không chỉ là một vấn đề y học mà còn bao gồm những rào can xã hội và sự tách biệt khỏi cuộc sống thường ngày bằng sự phân biệt đối xử và những chuẩn mực cũ.

Đây cũng là một bước tiến mới trong sự cam kết của Việt Nam sẽ bảo vệ quyền lợi của mọi người khuyết tật Việt Nam, lặp lại những lời đã xuất hiện trong Hiến pháp 1992 (Điều 59 và 67) và tiếp tục sứ mệnh của Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998. Một khi CRPD được phê chuẩn, Việt Nam sẽ “đảm nhận sự đảm 2°5 Ngô Vinh Bạch Dương (2017), “Bao đảm quyền tiếp cận của trẻ em mắc bệnh tự kỷ”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 23 (351), tz. 209 bảo và xúc tiến quá trình hiện thực hóa toàn bộ cá› quyền con người và những quyền tự do cơ bản cho mci người khuyết tật mà không phân biệt dựa trên bất cứ tiêu chuẩn khuyết tật nào” (UN, 2006). Việt Nam là một trong những quốc gia rất tích cực trong việc tham gia các công ước quốc tế liên quan đến nhân quyền.

Tính đến nay, Việt Nam đã phê chuẩn hầu hết các Công ước quốc tế quan trọng về quyền cor người. Với hoàn cảnh lịch sử đặc biệt - trải qua hai cuéc chiến tranh và đặc điểm địa lý có nhiều thiên tai. nén tỷ lệ người khuyết tật trong dân số ở Việt Nam luôn cao. Do đó, Dang va Nhà nước ta rất quan tâm ban hành các chính sách đảm bảo quyền lợi cho người khuyết tật.

Trước đây, điều 59 Hiến pháp năm 1992 cũng đã dé cập dén quyền được học tập đối với người khuyết tật và hiện nay tại Điều 61 Hiến pháp năm 2013 có quy định quyền bìph đẳng trong giáo dục đối với mọi công dân tại khoản 2 và Nhà nước tạo điều kiện để người nghèo được học văn hóa và học nghé” (khoản 3 Điều 61 Hiến pháp năm 2013). Trong bối cảnh Việt Nam tăng cường hội nhập quốc tế trên tất ca các lĩnh vực, xây dựng nhà nước pháp q1yền xã hội chủ nghĩa với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Quyền của người khuyết tật có ý nghia quan trọng trên tất cả các mặt chính trị, pháp lý va xã bội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Quyền người khuyết tật theo công ước quốc tế và nội luật hóa tại Việt Nam - Phần 2 là tài liệu chuyên sâu phân tích các quy định quốc tế về quyền người khuyết tật và quá trình nội luật hóa tại Việt Nam. Tài liệu này giúp độc giả hiểu rõ hơn về các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia, cũng như cách các quy định này được áp dụng trong hệ thống pháp luật nội địa. Đặc biệt, nó nhấn mạnh sự tiến bộ trong việc bảo vệ quyền lợi của người khuyết tật, đồng thời chỉ ra những thách thức và giải pháp để hoàn thiện pháp luật liên quan.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề pháp lý khác, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ luật học đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do hết thời hiệu khởi kiện theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học huỷ bỏ hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, và Luận văn thạc sĩ luật học thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự từ thực tiễn Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh pháp lý liên quan.