CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ 1. Khái niệm Thanh toán quốc tế đã ra đời từ lâu, nhưng nó mới chỉ phát triển mạnh mẽ vào cuối thế kỷ 20 khi mà khối lượng mua bán, đầu tư quốc tế và chuyển tiền quốc tế ngày càng gia tăng, từ đó làm cho khối lượng các giao dịch thanh toán qua ngân hàng cũng tăng theo. Việc thanh toán qua ngân hàng làm gia tăng việc sử dụng đồng tiền của các nước để chi trả lẫn nhau và TTQT đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hoạt động của nền kinh tế của các quốc gia hiện nay.
Nguyễn Văn Tiến trong Giáo trình Thanh toán quốc tế và tài trợ ngoại thương (2016): “Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa các ngân hàng của các nước liên quan”.12-13] Từ định nghĩa này, có thể thấy, TTQT diễn ra trên phạm vi toàn cầu, phục vụ các giao dịch thương mại, đầu tư, hợp tác quốc tế thông qua mạng lưới ngân hàng thế giới. Vai trò của thanh toán quốc tế trong hoạt động xuất nhập khẩu Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hóa và thương mại quốc tế phát triển, TTQT ngày càng giữ một vai trò quan trọng và không thể thiếu đối với nền kinh tế quốc dân và đặt biệt trong hoạt động XNK của các doanh nghiệp. TTQT với vai trò là cầu nối và thúc đẩy ngoại thương, tăng cường vị thế kinh tế của mỗi quốc gia trên thị trường quốc tế, tạo cầu nối giữa các quốc gia trong quan hệ thanh toán và khâu cuối cùng của việc thực hiện một hợp đồng thương mại quốc tế. TTQT phục vụ nhu cầu thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ XNK của doanh nghiệp.
Trước bối cảnh thương mại quốc tế ngày càng có quy mô lớn và tăng trưởng nhanh, với trao đổi hàng hóa, dịch vụ hay thực hiện gia công không còn giới hạn trong phạm vi một quốc gia. Đồng thời, phát triển không ngừng cùng xu hướng gia tăng mở cửa nền kinh 6 tế của các nước, thương mại quốc tế cũng phát triển phức tạp hơn, thể hiện qua nhiều phương thức kinh doanh mới như: Thương mại điện tử, mua bán nợ thương mại, cho thuê tài chính. Mặt khác, TTQT là một mảng không thể tách rời đối với hoạt động thương mại quốc tế nói chung và hoạt động XNK nói riêng, song cũng được đánh giá là lĩnh vực có nhiều rủi ro với việc lừa đảo trong hoạt động XNK, gây thiệt hại không nhỏ đối với các doanh nghiệp kinh doanh XNK. Đơn cử, đối với lĩnh vực XNK đối mặt với những "khuyết tật" của khâu thanh toán tiền hàng, mất khả năng thanh toán, sai sót chứng từ.
Phương thức chuyển tiền Theo GS. Nguyễn Văn Tiến trong Giáo trình Thanh toán quốc tế và tài trợ ngoại thương (2016): “Chuyển tiền là phương thức thanh toán trong đó khách hàng (người chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) theo một địa chỉ nhất định và trong một thời gian nhất định”. 225] Có thể nói chuyển tiền là phương thức thanh toán đơn giản, trong đó, người chuyển tiền và người nhận tiền tiến hành thanh toán với nhau. Khi thực hiện chuyển tiền, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán theo ủy nhiệm để hưởng phí mà không bị ràng buộc bất cứ trách nhiệm gì đối với người chuyển tiền và người thụ hưởng.
Ưu điểm của phương thức này là đơn giản, thuận tiện, thanh toán trực tiếp giữa người mua và người bán, ngân hàng chỉ giữ vai trò trung gian. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số nhược điểm như sự thanh toán phụ thuộc vào thiện chí của bên mua, bên bán dễ bị chiếm dụng vốn trong thanh toán. Phương thức ghi sổ Theo GS. Nguyễn Văn Tiến trong Giáo trình Thanh toán quốc tế và tài trợ ngoại thương (2016): “Là phương thức thanh toán trong đó nhà xuất khẩu sau khi hoàn thành giao hàng ghi Nợ tài khoản cho bên nhập khẩu vào một cuốn sổ theo dõi và việc thanh toán các khoản nợ này được thực hiện thông thường theo định kỳ như đã thỏa thuận”.234] Với đặc điểm của phương thức ghi sổ, nó sẽ phù hợp trong trường hợp nhà NK khan hiếm ngoại tệ, khi đó họ chấp nhận trả giá cao hơn, đổi lại họ sẽ mua được hàng 7 hoá.
Nó cũng phù hợp trong các mối quan hệ mua bán hàng đổi hàng hoặc hàng bán giao làm nhiều lần. Phương thức này chỉ áp dụng giữa các bên có quan hệ mua bán thường xuyên và tin cậy lẫn nhau, giữa nội bộ các công ty với nhau, giữa công ty mẹ và công ty con. Nó cũng có thể được áp dụng trong các thanh toán phi mậu dịch. Phương thức nhờ thu Theo GS.
Nguyễn Văn Tiến trong Giáo trình Thanh toán quốc tế và tài trợ ngoại thương (2016): “Nhờ thu là phương thức thanh toán, theo đó, bên bán (nhà xuất khẩu) sau khi giao hàng hay cung ứng dịch vụ, ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình xuất trình bộ chứng từ thông qua ngân hàng đại lý cho bên mua (người nhập khẩu) để được thanh toán, chấp nhận hối phiếu hay chấp nhận cá điều kiện và điều khoản khác”.244] Thanh toán bằng phương thức nhờ thu sẽ giảm thiểu một phần rủi ro cho nhà XK vì chứng từ chỉ được giao cho người NK khi người NK thanh toán tiền hàng hoặc đã ký chấp nhận hối phiếu (đối với nhờ thu kèm chứng từ). Tuy nhiên thanh toán theo phương thức này người bán/ người XK vẫn phải chịu rủi ro trong trường hợp người mua/ người NK không chấp nhận chứng từ hoặc từ chối thanh toán hối phiếu khi đáo hạn. Phương thức tín dụng chứng từ Phương thức TDCT xuất hiện từ lâu và đã đáp ứng nhu cầu nâng cao hiệu quả kinh tế, từ đó đến nay nó trở thành phương thức TTQT thông dụng nhất trong ngoại thương. Nguyễn Văn Tiến trong Giáo trình Thanh toán quốc tế và tài trợ ngoại thương (2016): “Tín dụng chứng từ thực chất là một sự thỏa thuận bất kỳ, cho dù được gọi tên hoặc mô tả như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của NHPH về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp”.276] L/C do một Ngân hàng phát hành (NHPH) thể hiện một cam kết là chắc chắn thanh toán không hủy ngang cho người thụ hưởng nếu người này xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với những quy định của L/C và trong thời hạn của L/C đó.
Do đó L/C được xem là một công cụ chuyển tải toàn bộ nội dung của phương thức TDCT. Chính vì vậy, trong thực tế người ta thường gọi đan xen giữa phương thức TDCT với thanh toán bằng L/C. Do là một thỏa thuận bất kỳ, nên L/C có tính chất đa dạng, phong phú và phức tạp. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1.
Khái niệm phương thức tín dụng chứng từ Trong giao dịch mua bán giữa hai bên, đặc biệt là trong hợp đồng thương mại quốc tế, người bán luôn mong muốn thu tiền về sớm nhất và đầy đủ nhất, trong khi đó người mua lại muốn nhận được hàng hóa theo đúng chất lượng mà mình yêu cầu. Nguyễn Văn Tiến trong Giáo trình Thanh toán quốc tế và tài trợ ngoại thương (2016): “Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó một ngân hàng (ngân hàng phát hành tín dụng) theo yêu cầu của khác hàng (người yêu cầu mở L/C) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) hoặc chấp nhận hối phiếu do người hưởng lợi ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người hưởng lợi xuất trình cho ngân hàng các chứng từ phù hợp với những quy định của L/C ”.276] Trong phương thức TDCT, có 4 bên tham gia chính sau: Người xin mở L/C (Applicant): là người mua, người NK hàng hóa. Người hưởng lợi L/C (Beneficiary): là người bán, người XK. Ngân hàng phát hành (NHPH) hay Ngân hàng mở L/C (Issuing bank): là NHPH L/C theo yêu cầu của người NK.
Đây là ngân hàng đại diện cho người NK, chịu trách nhiệm trả tiền cho người NK. NHPH thường được hai bên mua bán thỏa thuận lựa chọn và quy định trong hợp đồng, nếu chưa có sự quy định trước, người NK có quyền lựa chọn. Ngân hàng thông báo (NHTB – Advising bank): là NHTB cho người XK về việc L/C đã được mở. Ngân hàng này có trách nhiệm thông báo và gửi bản gốc L/C cùng các sửa đổi L/C tới người XK.
NHTB thường là ngân hàng đại lý hoặc là chi nhánh của ngân hàng mở L/C đặt tại nước người XK. Trong thực tiễn, khi người NK và người XK lựa chọn phương thức thanh toán TDCT cho thương vụ của mình, họ thường gọi đó là “thanh toán bằng L/C”. Bởi vì trong ngoại thương, TDCT là loại tín dụng do ngân hàng mở cho người NK, được đảm bảo bằng các chứng từ gửi hàng của người XK. Còn L/C là văn bản thể hiện loại tín dụng đó và là sự cam kết trực tiếp của ngân hàng với người XK.
Như vậy, L/C là một công 9 cụ quan trọng của phương thức TDCT. Đó là một chứng thư (điện hoặc ấn chỉ), trong đó ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người XK nếu họ xuất trình được các chứng từ phù hợp với yêu cầu của L/C. Một điểm cần lưu ý là chữ “tín dụng” ở đây phải được hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa tín nhiệm, chứ không chỉ là khoản tiền cho vay trong nghĩa thông thường của từ này. Bởi vì trong trường hợp ngân hàng đòi hỏi người NK cần phải ký quỹ 100% số tiền của L/C thì thực chất ngân hàng không cấp một khoản tín dụng nào cả mà là cho người NK vay sự tín nhiệm của mình.
Lời hứa trả tiền của ngân hàng sẽ được tin tưởng hơn lời hứa trả tiền của người NK vì ngân hàng có tín nhiệm hơn người NK. Các đặc trưng cơ bản của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, có ba mối quan hệ hợp đồng được hình thành theo mô hình: NHPH Application L/C for L/C HĐ 2 HĐ 3 HĐ 1 Nhà nhập khẩu Nhà xuất khẩu Sales contract Sơ đồ 1.