CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề về tư duy 1. Khái niệm tư duy Quá trình nhận thức, tìm tòi bản chất, quy luật của những cái chưa biết đó là quá trình tư duy. Đã có rất nhiều các cách khác nhau giải thích về khái niệm tư duy.
Theo Tâm lý học, trong vật chất tư duy là một thuộc tính đặc biệt, có tổ chức. Các thuộc tính bản chất, mối liên hệ bên trong của sự vật, hiện tượng có tính quy luật trước đó đều được phản ánh thông qua tư duy. Theo nhận định của Art Costa thì tư duy được hiểu là sự cảm nhận của mỗi chúng ta khi tiếp nhận các dữ kiện, thông tin diễn ra xung quanh trong các mối quan hệ. Dưới góc độ giáo dục, có thể hiểu tư duy là một hệ thống gồm nhiều ý tưởng, nó dùng suy nghĩ hay tái tạo suy nghĩ để nắm được bản chất của sự việc và giải quyết được nó.
Qua rất nhiều cách nhìn nhận về tư duy trên nhưng các tác giả đều có điểm tương đồng rằng: Tư duy là quá trình tâm lí phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, là sự khái quát những thuộc tính chung, có bản chất là tìm ra những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà ta chưa biết. Như vậy, tôi có thể quan niệm: “Tư duy là một quá trình tâm lý có sự tìm kiếm và phát hiện ra các quy luật, thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng”. Các thao tác tư duy và phân loại tư duy Quá trình tư duy được tiến hành dựa trên các thao tác trí tuệ cơ bản như: • Phân tích - tổng hợp: - Phân tích: là quá trình mà sử dụng trí óc phân chia đối tượng bản thân nhận thức được thành các phần khác nhau. Từ đó tổng kết lại đưa ra được các thuộc tính, đặc điểm của đối tượng nhận thức.
Sau đó so sánh, phân loại, đối chiếu làm cho bản chất của đối tượng được rõ ràng. - Tổng hợp: là quá trình dùng trí óc để sắp xếp, kết hợp những thành phần, 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuộc tính của đối tượng nhận thức được làm sáng tỏ nhờ sự phân tích từ đó nhìn nhận đối tượng một cách bao quát, toàn diện hơn. Tóm lại, đây là thao tác vô cùng quan trọng để giải quyết vấn đề, nó được coi là dấu ấn của sáng tạo. • So sánh - tương tự: chính là hoạt động tư duy để xác định sự giống và khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng.
Nhờ có so sánh mà có thể tìm ra được các dấu hiệu, thuộc tính giống nhau và khác nhau của các sự vật. Ngoài ra còn thấy được dấu hiệu bản chất hay không bản chất của chúng. • Khái quát hóa - đặc biệt hóa: Là thao tác tư duy nhằm hệ thống các đối tượng lại với nhau thành một nhóm, một loại được chia theo thuộc tính, mối liên hệ hay quan hệ chung nào đó. Tóm lại, khái quát hóa được hiểu là quá trình đi từ những cái riêng lẻ, cái đặc biệt thành cái chung, cái tổng quát.
Cũng có thể là từ cái tổng quát đến cái tổng quát hơn nữa. Trong toán học, người ta thường vận dụng khái quát một số yếu tố hoặc nhiều yếu tố của các khái niệm, định lý, bài toán,.thành các kết quả tổng quát. Bởi vậy khái quát hóa là một trong những năng lực cơ bản của năng lực Toán học còn đặc biệt hóa là thao tác tư duy ngược của khái quát hóa. Do đó, khi muốn khái quát hóa, ta nên thử đặc biệt hóa trước.
Nếu đặc biệt hóa cho kết quả là đúng thì khi đó ta mới tiến hành chứng minh dự đoán từ khái quát hóa. • Trừu tượng hóa: Trừu tượng hóa là quá trình dùng trí óc nhằm gạt bỏ những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ, những quan hệ thứ yếu không cần thiết và chỉ giữ lại các yếu tố đặc trưng cần thiết, bản chất của đối tượng nhận thức. Tóm lại, các thao tác tư duy cơ bản có thể coi là quy luật bên trong của mỗi hoạt động tư duy, các thao tác này đan chéo vào nhau không theo một trình tự nhất định và khi tư duy thì không nhất thiết phải thực hiện tất cả các thao tác trên.Các giai đoạn của quá trình tư duy Bốn bước cơ bản của tư duy như sau: - Xác định vấn về, nhiệm vụ cần tư duy. - Huy động những tri thức, kinh nghiệm để hình thành cách thức giải quyết vấn đề.
- Xác minh tính đúng đắn của giả thiết, nếu giả thiết đúng thì thực hiện 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bước tiếp theo, nếu giả thiết sai thì phủ định nó và hình thành giả thiết mới. - Tiến hành kiểm tra kết quả và cho tổ chức thực nghiệm.Đặc điểm cơ bản của tư duy a) Tính có vấn đề Khi gặp những tình huống mà sự hiểu biết, nhận thức vấn đề cũ, phương pháp hành động đã biết của con người không đủ giải quyết thì con người rơi vào tình huống có vấn đề. Con người sẽ phải tư duy, tìm cách vượt ra được khỏi phạm vi những hiểu biết cũ để đi đến cái mới. b) Tính gián tiếp Tư duy con người có thể phản ánh gián tiếp về thế giới xung quang.
Điều này được thể hiện rõ nhất thông qua cách mà con người sử dụng ngôn ngữ để tư duy. Bên cạnh đó, trong quá trình tư duy cũng thể hiện tính gián tiếp. Khi đó, con người mở rộng khả năng nhận thức của mình. Không chỉ phản ánh được những sự việc trong hiện tại mà còn phản ánh cả quá khứ và tương lai.
c) Tính trừu tượng và khái quát Các sự vật hiện tượng không chỉ được tư duy phản ánh một cách riêng lẻ, chi tiết mà tư duy còn có khả năng trừu tượng phản ánh những thuộc tính, những dấu hiệu cá biệt, cụ thể, chỉ giữ lại những thuộc tính chung cho nhiều sự vật, hiện tượng. Từ đó, tư duy khái quát các sự vật, hiện tượng cụ thể, riêng lẻ nhưng mang đặc điểm, tính chất chung thành một nhóm, một phạm trù. d) Tính độc lập tương đối Hoạt động giao tiếp giữa con người luôn diễn ra hằng ngày trong cuộc sống. Do đó, tư duy của mỗi người vừa tự biến đổi không ngừng trong quá trình giao tiếp của bản thân, vừa chịu những tác động từ tư duy của những người xung quanh.
Mặc dù tư duy được hình thành thông qua các hoạt động thực tiễn nhưng nó vẫn có tính độc lập tương đối. Kể từ sau khi xuất hiện, tư duy phát triển dưới sự ảnh hưởng của những tri thức nhân loại đã tích lũy trước đó. Nó chịu sự tác động của các lí thuyết và quan điểm đang có lúc bấy giờ. Tư duy phản ánh những đặc thù logic khách quan theo suy nghĩ và hiểu biết riêng của mỗi người.
Đây là logic phát triển riêng của tư duy. e) Mối qua hệ giữa tư duy và ngôn ngữ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tư duy mang nhiều đặc điểm một phần là do nó có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ. Quá trình tư duy của con người được diễn ra là nhờ sự giúp đỡ của ngôn ngữ. Bên cạnh đó, ngôn ngữ còn giúp những chủ thể khác tiếp nhận các sản phẩm của tư duy như khái niệm, phán đoán.
Bên cạnh đó, ngôn ngữ còn giúp tư duy cố định lại kết quả. Nó hỗ trợ giúp tư duy biểu đạt. Vì vậy, ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ chặt chẽ, ngôn ngữ trở thành phương tiện của tư duy. f) Mối quan hệ giữa tư duy và nhận thức cảm tính Nhận thức cảm tính gồm hai thành phần chính là cảm giác và chi giác.
Cảm giác được hiểu đơn giản là quá trình phản ánh từng thuộc tính riêng rẽ bên trong của sự vật, hiện tượng tác động một cách trực tiếp vào giác quan con người.Còn tri giác thì chính là quá trình phản ánh các thuộc tính bên ngoài. So với nhận thức cảm tính thì tư duy ở mức độ nhận thức cao hơn về chất. Ngược lại,khả năng phản ánh của nhận thức cảm tính cũng chị ảnh hưởng mạnh mẽ của tư duy. Cảm giác của con người nhạy bén hơn; tri giác con người có tính lựa chọn hơn nhờ tư duy.Các loại hình tư duy Có rất nhiều cách gọi tên và phân loại tư duy như tư duy logic, tư duy trừ tượng, tư duy sáng tạo, tư duy kinh nghiệm, tư duy lý luận, tư duy hoa học, tư duy triết học,.
Việc phân chia rõ các loại hình tư duy có tác dụng phân biệt mục đích của từng loại và vận dụng tốt tư duy trong hoạt động của hệ thần kinh. Một số cách phân loại tư duy như sau: Phân loại theo cách thể hiện - Tư duy nhờ hình tượng - Tư duy nhờ ngôn ngữ Phân loại theo cách vận hành - Tư duy kinh nghiệm - Tư duy sáng tạo - Tư duy trí tuệ - Tư duy phân tích - Tư duy tổng hợp Phân loại theo tính chất - Tư duy rộng, hẹp 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tư duy sâu, nông - Tư duy logic - Tư duy đơn giản, phức tạp - Tư duy lí luận Phân loại theo nội dung - Tư duy khoa học - Tư duy nghệ thuật - Tư duy tín ngưỡng 1. Tư duy sáng tạo 1. Khái niệm về sáng tạo Có rất nhiề quan điểm khác nhau về sáng tạo.
Theo từ điển tiếng Việt cho rằng: Sáng tạo là tìm ra những cái mới, những cách làm, cách giải quyết mới, không bị rập khuôn, gò bó, phụ thuộc vào cái cũ. Theo quan điểm trong từ điển triết học thì lại cho rằng quá trình hoạt động của con người mà tạo ra những sản phẩm mới về cả vật chất và tinh thần thì được gọi là sáng tạo. Tóm lại, có thể hiểu sáng tạo là những ý tưởng, cách làm mới, cải tiến từ những cái đã có sẵn rồi chọn lọc, tổng hợp lại thành một hình tượng mới.Khái niệm về tư duy sáng tạo Theo tác giả G.Polya cho rằng:" Một tư duy gọi là có hiệu quả nếu tư duy đó dẫn đến một lời giải bài toán cụ thể nào đó; có thể coi là sáng tạo nếu tư duy đó tạo ra những tư liệu, phương tiện giải các bài toán sau này; các bài toán vận dụng những tư liệu, phương tiện này có số lượng càng lớn, có dạng phong phú thì mức độ sáng tạo của tư duy càng cao".