mở đầu, chữ cái đầu đoạn bao giờ cũng được viết hoa và viết lùi vào so với các dòng chữ khác trong đoạn. - Đoạn văn kết thúc khi hết câu và chấm xuống dòng. - Mỗi câu văn trong đoạn cần có sự liên kết với nhau về mặt hình thức, thể hiện bằng các phép liên kết (phép thế, phép lặp, sử dụng quan hệ từ…) 15 - Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề. Cụ thể, từ ngữ chủ đề thường là những từ ngữ được dùng lặp lại nhiều lần (chỉ từ, đại từ…) để duy trì đối tượng thể hiện cảm xúc.
Câu chủ đề là câu khái quát nội dung của đoạn văn, thường được đứng đầu hoặc cuối câu. Về mặt nội dung, đoạn văn thể hiện cảm xúc cần: - Diễn đạt được tình cảm, cảm xúc theo một trình tự hợp lý và có mối liên quan chặt chẽ với nhau trên cơ sở chung là đối tượng biểu cảm mà đề bài đã yêu cầu. - Định hướng cảm xúc xuyên suốt trong đoạn văn. Cảm xúc cần chân thật, trong sáng, tư tưởng phải tiến bộ, đúng đắn thì đoạn văn mới có giá trị.
- Ngôn ngữ trong đoạn văn thể hiện cảm xúc nên trong sáng, chuẩn mực, giàu giá trị biểu cảm để gợi ra được cảm xúc, tình cảm của người viết (vui, buồn, xúc động, ngưỡng mộ….) * Cấu trúc của đoạn văn thể hiện cảm xúc Luyện tập xây dựng đoạn văn thể hiện cảm xúc chính là bước đầu để hoàn chỉnh một bài văn biểu cảm. Vì thế, cấu trúc của đoạn văn sẽ có sự tương đồng với bài văn thể hiện cảm xúc, bao gồm ba phần : HS cần xác định rõ các bước viết đoạn văn thể hiện cảm xúc bao gồm: tìm hiểu đề, xác định câu chủ đề và tìm ý, viết các ý trong đoạn văn và sửa đoạn văn. 16 * Các bước viết đoạn văn thể hiện cảm xúc Có nhiều cách để viết một đoạn văn thể hiện cảm xúc thành công. Tùy theo hoàn cảnh cụ thể của mỗi người để có những cách phù hợp.
Với các em học sinh năng khiếu, có thể ứng tác một cách linh hoạt. Còn đối với học sinh bình thường nói chung giáo viên có thể giúp các em luyện tập theo một số bước cơ bản, thông thường sau đây: (1) Bước 1: Tìm hiểu đề và tìm ý Đề văn thể hiện cảm xúc thường chỉ ra đối tượng và nêu yêu cầu biểu cảm. Vậy cần xác định rõ yêu cầu của đề. Tìm ý là công việc gắn liền với tìm hiểu đề.
Trước hết cần huy động những kết quả quan sát được thường ngày về đối tượng và xác định tình cảm chủ đạo cho bài viết. Sau khi xác định cảm hứng chủ đạo, cần suy nghĩ để tìm các ý nhằm triển khai cảm hứng đó. HS cần phải biết huy động trí tưởng tượng sáng tạo để một mặt hình dung trước cảm hứng chủ đạo, mặt khác có thể bổ sung cho ý còn khiếm khuyết trong quan sát thực tế. Tuy nhiên vẫn phải coi sự chân thực là gốc rễ mọi khâu của quá trình sáng tạo.
Xác định yêu cầu của đề và tìm ý dựa vào các từ ngữ, cấu trúc của đoạn bài, đối tượng thể hiện cảm xúc. Từ đó, HS xác định nội dung, tư tưởng, tình cảm sẽ viết cần phải hướng tới bằng cách trả lời các câu hỏi như: Nội dung đoạn văn sẽ nói về điều gì? Qua đó cần bộc lộ thái độ, tình cảm gì? Ví dụ: “ Cảm nghĩ về nụ cười của mẹ” Đối tượng thể hiện cảm xúc là người mẹ và nụ cười của mẹ; yêu cầu của đề là nêu suy nghĩ và cảm xúc về nụ cười của mẹ và về người mẹ…. Có thể xác định các ý bao gồm: - Mẹ là người như thế nào?( Giới thiệu ngắn gọn về hình dáng và nhất là tính cách). - Nụ cười của mẹ thường xuất hiện khi nào? Vì sao?( Gắn với nụ cười của mẹ với những biểu hiện tốt về học tập và đạo đức của em).
Kể lại một vài trường hợp mẹ cười vui vì em chăm ngoan, học giỏi, có thành tích tốt…. 17 - Tình cảm của em đối với mẹ và lời thầm hứa sẽ luôn làm cho mẹ vui… (2) Bước 2: Lập dàn ý cho đoạn văn Đây là bước quan trọng khi viết văn, giúp người viết hình thành khung xương và lên ý tưởng cho đoạn viết của mình. Yêu cầu của đoạn văn thể hiện cảm xúc được tổ chức theo mạch cảm xúc của người viết, thông thường gồm ba phần: mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn như các thể loại văn khác. Trong đó: - Mở đoạn: Giới thiệu đối tượng, hoàn cảnh, tác phẩm văn học được chọn.
Thông thường, chủ thể miêu tả đối tượng để gợi cảm hứng, hoặc cũng có thể nêu những lý do để nói rằng, nhu cầu biểu cảm là rất cần thiết. Cần nghiên cứu kĩ yêu cầu của đề để xác định cảm hứng chủ đạo sao cho mở đoạn có thể nhận ra được định hướng của bài viết và những cảm xúc ban đầu của bản thân. Ví dụ: Với đề thể hiện cảm xúc về người mẹ, mở đoạn có thể giới thiệu người mẹ, nêu khái quát tuổi tác, nghề nghiệp, tính cách… Tả lại một đôi nét về nụ cười của mẹ để bắt đầu cho việc biểu lộ tình cảm của mình… - Thân đoạn: Kết hợp với miêu tả và tự sự để bộc lộ cảm xúc cá nhân đối với sự vật, hiện tượng, các khía cạnh của tác phẩm được nêu theo trình tự, diễn biến tâm lý thích hợp. Chủ thể lần lượt nêu lên tình cảm, thái độ, suy nghĩ của mình.
Lưu ý, yếu tố miêu tả và tự sự chỉ là công cụ để người viết bộc lộ cảm xúc. Trong những đề khác nhau, có thể bố cục khác nhau, chẳng hạn, có thể từ đối tượng mà lần lượt suy rộng ra các vấn đề của cuộc sống; từ đối tượng mà lần lượt liên tưởng đến những câu chuyện, những kỉ niệm biểu thị tình cảm… Ví dụ: trong văn bản Cổng trường mở ra, chủ thể thể hiện cảm xúc là một người mẹ, đã từ đối tượng thể hiện cảm xúc là “ ngày khai trường của con” để mở rộng ra những “ câu chuyện” đẹp đẽ, từ đó thể hiện tình cảm mẹ con rất xúc động. - Kết đoạn: Có nhiều cách kết bài, tuy nhiên, thông thường, có thể kết bài bằng cách rút ra ý nghĩa sâu xa, khái quát nhất trong cảm xúc, tình cảm của chủ 18 thể. Tổng kết lại cảm xúc hoặc nâng lên thành tư tưởng.
Người viết có thể nêu đánh giá và liên hệ với những bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học. (3) Bước 3: Viết đoạn Sau khi bố cục bài viết hợp lý và có khả năng gợi được cảm hứng sáng tạo, HS bắt đầu viết đoạn. Khi viết cần lưu ý rằng: phải luôn luôn phát động được cảm hứng, tránh cho bài văn khô khan cộc lốc, nghèo nàn. Muốn vậy cần bám sát đối tượng, thả cho tâm hồn mình được tự do tưởng tượng, liên tưởng.
Trong quá trình diễn đạt, người viết cần kết hợp với các phương thức biểu đạt (miêu tả, tự sự, nghị luận) và sử dụng các biện pháp nghệ thuật đặc sắc (so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, điệp ngữ, nói quá…) để bài văn bộc lộ cảm xúc, ý nghĩ một cách cụ thể, chi tiết, sâu sắc. Không những thế, câu văn cũng cần sử dụng đan xen nhiều kiểu câu như câu trần thuật, câu cảm, câu nghi vấn, câu cầu khiến; câu dài, câu ngắn. Lời văn phải có cảm xúc với vốn từ ngữ giàu hình ảnh, giàu sức gợi cảm. (4) Bước 4: Sửa đoạn Khi đã hoàn thành đoạn văn, người viết cần có thói quen đọc và tự sửa lại các lỗi chính tả, lỗi dùng từ hay bổ sung các biện pháp nghệ thuật.
Đây là khâu cần thiết trong quá trình viết bài, giúp người viết chủ động đánh giá, kiểm tra và bám sát vào nội dung, yêu cầu đề bài. Ví dụ : Đọc bài “Cây tre Việt Nam”, em thấy vô cùng trân trọng giá trị và ý nghĩa của cây tre gắn với người nông dân Việt Nam, tượng trưng cho sự nỗ lực vươn lên không ngừng của người dân Việt Nam. Từ đó, GV định hướng cho HS lựa chọn các ý chính để củng cố, chứng minh hoặc làm rõ câu chủ đề, đồng thời lồng ghép những suy nghĩ, tình cảm cá nhân trong bài. Các câu văn trong đoạn cần liên kết với nhau thật chặt chẽ bằng các phép liên kết, phương tiện liên kết, từ hoặc câu liên kết.
GV cũng cần khuyến khích HS sử dụng các các biện pháp nghệ thuật, kết hợp giữa thể hiện cảm xúc trực tiếp và gián tiếp để thể hiện được cảm xúc rõ nét hơn. Cuối cùng, ở câu kết, HS nêu lên những cảm nghĩ chung, có thể đánh giá hoặc liên hệ bản thân, tránh trùng lặp, đơn điệu. 19 Sau khi đã hoàn thiện đoạn văn, HS cần thực hiện bước tự đọc và chỉnh sửa lại đoạn văn. Cách làm này sẽ giúp các em hình thành năng lực tự học đồng thời biết soi chiếu lại yêu cầu của đề bài, sửa chữa lại những từ ngữ, câu văn chưa phù hợp.
Đặc trưng của thể loại thơ lục bát 1. Quan niệm về thể thơ lục bát Lục bát là thể thơ độc đáo của văn học Việt Nam, rất thông dụng trong văn chương và trong đời sống. Đúng như tên gọi, một cặp câu thơ cơ bản gồm một câu 6 âm tiết và 1 câu 8 âm tiết, phối vần với nhau. Một bài thơ lục bát gồm nhiều câu tạo thành không hạn chế số câu.
Đây là thể thơ được dùng chủ yếu trong ca dao, dân ca. Có thể nói, thơ lục bát là niềm tự hào của dân tộc Việt. Và càng tự hào hơn nữa khi bản sắc văn hóa dân tộc Việt đã được nhân loại biết đến, khẳng định và tôn vinh. Để đạt được những chiến công vang dội đó, chúng ta đã luôn nỗ lực cống hiến, không ngừng tìm kiếm, lựa chọn, sàng lọc, kế thừa, phát huy, sáng tạo đổi mới tạo cho lục bát sự tinh luyện, thù biệt.
"Nếu như người Anh, người Ý tự hào vì có thơ Sonne, người Nhật có thơ Haikư, người Trung Quốc có Đường thi…, thì chúng ta cũng có quyền tự hào vì có thơ lục bát. Đó là một trong những thể thơ đã có tự ngàn năm, tồn tại và phát triển thông qua lời ăn, tiếng nói của ông bà ta xưa truyền lại cho con cháu, qua tục ngữ, ca dao và qua làn điệu dân ca ở khắp mọi miền đất nước. Có thể nói: ở đâu có lục bát là ở đó có văn hóa Việt Nam".