CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Dạy đọc hiểu văn bản văn học theo đặc trưng thể loại 1. Quan niệm chung về dạy học văn bản văn học theo đặc trưng thể loại Từ lâu, thể loại văn học đã được các nhà văn cũng như các nhà nghiên cứu văn chương, giáo dục Ngữ văn quan tâm. Ở chúng, ta có thể nhận ra diện mạo, đường nét của một loại hình văn học, được hình thành trong quá trình phát triển của lịch sử và duy trì trong nó những yếu tố tương đối ổn định.
Mỗi thể loại đều có đặc trưng riêng, được xác định bởi các kĩ thuật sáng tác văn học như giọng điệu, nội dung hoặc thậm chí độ dài của tác phẩm. Chẳng hạn, các tác phẩm sử thi như “Đẻ đất đẻ nước”, “Đăm Săn”, “Con cháu Mon Mân”… được hình thành khi đã có cộng đồng, đất nước với dung lượng hàng nghìn câu. Nhân vật chính trong các tác phẩm này đều là những người anh hùng có công với xóm làng, với cộng đồng và được cả thần linh lẫn con người ủng hộ tuyệt đối. Gắn liền với các nhân vật chính là những sự kiện lớn trong đời sống của xã hội cộng đồng như sự chuyển giao quyền hành giữa các chế độ; quá trình chống giặc ngoại xâm, mở rộng bờ cõi… Người phương Tây gọi thể loại là genre (thể loại văn học).
Người Trung Quốc gọi là thể tài, là một hình thức chỉnh thể của tác phẩm văn học. Trong cuốn sách Lí luận văn học do tác giả Phương Lựu chủ biên, các tác giả có đưa ra quan niệm về thể loại như sau: “Thể loại tác phẩm văn học là một hiện tượng loại hình của sáng tác và giao tiếp văn học, hình thành trên cơ sở sự lặp lại có quy luật của các yếu tố tác phẩm. Đó là cơ sở để người ta tiến hành phân loại tác phẩm. Nhưng thể loại tác phẩm không đơn giản chỉ là loại hình và lặp lại.
Bản chất của sáng tạo nghệ thuật là tính độc đáo và không lặp lại. Sự vận động cuộc sống cũng luôn luôn sản sinh và làm biến động các giới hạn phản ánh, đổi mới các kênh giao tiếp và làm cho chúng tác động vào nhau, đan bện vào nhau trong các tác phẩm nghệ thuật độc đáo” [31]. Lê Văn Dương, loại (loại thể văn học) nhằm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm: “Đó là sự tổ chức, sự sắp xếp các tác phẩm có cùng phương thức tiếp cận đối tượng nghệ thuật, có chung phương thức cấu trúc hình tượng và chung phương thức cấu trúc lời văn vào thành từng loại hoặc từng thể. Thể là khái niệm nhỏ hơn loại, nằm trong loại hay còn gọi là thể loại.
Thể loại văn học là một hình thức tổ chức ngôn từ theo một dạng thức nhất định nào đó thể hiện cảm xúc, tư tưởng của con người trước các hiện tượng đời sống. Tác phẩm văn học nào cũng có một thể (cấu tạo) và thể thức ngôn từ nhất định. Các hình thức cá biệt ấy hết sức đa dạng. Song giữa chúng lại có những đặc điểm giống hoặc gần gũi nhau về ngôn từ, hình tượng, cấu tạo… để hình thành nên những “loại” nhất định, làm nên thể loại văn học” [48].
Phân chia thể loại là một công việc khá phức tạp. Vào thế kỉ XIX, nhà lí luận văn học Nga – Belinski đã chia tách tác phẩm văn học thành ba thể loại: tự sự, trữ tình, kịch. Sự phân chia này xuất phát từ ý nghĩa của việc nhận thức chân lí, mối quan hệ qua lại giữa chủ thể với đối tượng – khách thể nhận thức. Thơ trữ tình phơi bày con người bên trong của chủ thể trữ tình bao gồm cảm xúc, tâm tư, tình cảm, âm nhạc.
Tự sự là miêu tả khách quan một sự kiện đã hoàn thành, làm thành một bức tranh cho chúng ta xem. Kịch là sự cân đối giữa hai phương diện chủ quan và khách quan, tự sự và trữ tình. Kịch để từng nhân vật xuất hiện, bày ra trước mắt chúng ta một sự kiện đang thực hiện. Từ quan điểm này, lí luận văn học phương Tây thịnh hành chia chia văn học thành ba loại hình lớn: tự sự, trữ tình, kịch.
Dựa trên tiêu chí loại hình nội dung thể loại, nhà nghiên cứu văn học người Nga G.Pospelov lại chia thể loại thành các thần thoại sử thi, thế sự và đời tư. Dựa theo tiêu chí miêu tả cuộc sống đã hoàn thành và chưa hoàn thành, nhà nghiên cứu M.Bakhtin phân chia văn học thành hai thể loại: sử thi và tiểu thuyết. Ở Trung Quốc và Việt Nam thời xưa, do quan niệm văn sử bất phân, người ta chia văn học ra làm hai loại chính theo hình thức ngôn từ là thơ và văn. Một ví dụ điển hình cho các phân 12 chia này là cuốn sách Thơ văn Lí Trần do Viện văn học biên soạn.
Ở Trung Quốc hiện đại thịnh hành phân chia văn học thành bốn thể loại: thơ (bao gồm thơ, thơ trữ tình, thơ tự sư, sử thi (anh hùng ca); tiểu thuyết (bao gồm các tác phẩm tự sự, văn xuôi); kịch và tản văn (bao gồm các tác phẩm văn xuôi cổ như bát kí, tuỳ bút, kí sự, tạp văn…). Ở Việt Nam hiện đại, các nhà nghiên cứu chia văn học thành bốn thể loại: thơ ca (chủ yếu là thơ trữ tình), truyện (gồm cả tiểu thuyết và truyện thơ), kịch và kí (bao gồm tản văn, tuỳ bút). Thể loại văn học, trên thực tế rất đa dạng, phong phú và có sự giao thoa linh hoạt với nhau. Chẳng hạn, các tác phẩm thuộc loại hình trữ tình bao gồm thơ ca, khúc ngâm… lấy những cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng của con người làm chất liệu và đối tượng thể hiện chủ yếu.
Các tác phẩm thuộc loại hình tự sự bao gồm truyện, tiểu thuyết, kí… lại dùng lời kể, miêu tả để xây dựng cốt truyện, khắc hoạ tính cách nhân vật và phản ánh bức tranh của cuộc sống. Các tác phẩm kịch như chính kịch, bi kịch, hài kịch và các loại kịch bản sân khấu khác lại tái hiện những xung đột xã hội qua những lời thoại, hành động của nhân vật và xung đột kịch Bakhtin từng khẳng định vai trò quan trọng của thể loại: “Đằng sau cái mặt ngoài sặc sỡ và đầy tạp âm ồn ào của tiến trình văn học, người ta không nhìn thấy vận mệnh to lớn và cơ bản của văn học và ngôn ngữ, mà những nhân vật chính nơi đây trước hết là các thể loại, còn trào lưu, trường phái chỉ là những nhân vật hạng nhì hoặc hạng ba” [48]. Có thể nói rằng, thể loại chính là “nhân vật chính” của một tiến trình văn học. Vị trí của thể loại trong văn học quan trọng đến mức nhiều khi tác giả đặt tên tác phẩm gắn liền với thể loại.
Có thể dễ dàng nhận thấy điều này trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam: “Chiếu dời đô” (Lý Công Uẩn), “Hịch tướng sĩ” (Trần Quốc Tuấn), “Bạch Đằng giang phú” (Trương Hán Siêu), “Bình Ngô đại cáo” (Nguyễn Trãi), “Chinh phụ ngâm” (Đặng Trần Côn), “Truyện Kiều” (Nguyễn Du)… 13 Điều đó chứng tỏ rằng, muốn đạt được hiệu quả dạy học văn, việc dạy học phải được tiến hành theo đặc trưng thể loại, tránh để xảy ra tình trạng hoặc thiên về nội dung một cách gò bó, hoặc thiên về hình thức một cách trống rỗng. Mỗi tác phẩm văn học đều tồn tại dưới hình thức một loại thể nhất định, đòi hỏi một phương pháp, cách thức dạy học phù hợp với nó. Đến với thơ không giống đến với tự sự hay kịch. Đến với văn học dân gian không giống như đến với văn học viết.
Tiếp cận văn học trung đại và hiện đại có những đặc trưng thủ pháp nghiên cứu riêng. Điều đó chứng tỏ rằng, muốn dễ dàng tìm hiểu, phân tích tác phẩm, người đọc cần có tri thức về thể loại và biết cách áp dụng những tri thức đó vào việc đọc hiểu tác phẩm. Chính vì lý do trên mà vấn đề dạy học tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại đã được đặt ra và là mối băn khoăn, suy nghĩ, tìm tòi của phần lớn giáo viên văn học trong nhà trường phổ thông từ lâu. Dạy học văn bản văn học theo đặc trưng thể loại là phương pháp dạy học cung cấp cho học sinh chìa khoá để biết cách “giải mã” tác phẩm.
Mỗi thể loại, mỗi tác phẩm đều có một chiếc “ổ khoá” riêng, nhằm biểu đạt một nội dung, tư tưởng, thông điệp riêng. Nắm vững lí luận về thi pháp thể loại, học sinh mới có “chìa khoá” và khả năng “mở khoá” tác phẩm để tiếp cận với những cái hay, cái đẹp mà người viết gửi gắm ở những tác phẩm khác nhau. Dạy học đọc hiểu văn bản văn học theo đặc trưng thể loại là con đường khoa học nhất, thích hợp nhất để người học tiếp cận với tác phẩm văn học một cách sâu sắc và tinh tế hơn. Đồng thời, giúp các em hình thành năng lực đọc của chính mình.
Học sinh có thể vận dụng hiểu biết về thể loại của mình để tự đọc mọi tác phẩm văn học có cùng thể loại chứ không chỉ biết đọc một vài tác phẩm tiêu biểu đã học. Qua đó, học sinh có thể xác định sở thích đọc cũng như có cơ sở khoa học để tự đọc suốt đời. Yêu cầu của chương trình môn Ngữ văn 2018 về dạy học văn bản văn học theo đặc trưng thể loại Chương trình Ngữ văn 2018 đã xác định 3 kiểu văn bản lớn được dạy học ở nhà trường phổ thông: văn bản văn học, văn bản nghị luận và văn bản thông tin. Mục tiêu của chương trình là hướng đến việc hình thành, phát triển toàn diện các phẩm chất chủ yếu và năng lực cho học sinh; góp phần hình thành học vấn căn bản của một người có văn hóa, biết tạo lập các văn bản thông dụng, biết tiếp nhận và đánh giá các văn bản văn học nói riêng cũng như các sản phẩm giao tiếp và giá trị thẩm mĩ nói chung để vươn tới hình tượng của một công dân toàn cầu, phát triển và hoà nhập với cuộc sống mới.
Chương trình đã xác định các thể loại cụ thể cho mỗi kiểu văn bản. Riêng với văn bản văn học, chương trình có những quy định cụ thể như sau: Ở cấp tiểu học, văn bản văn học được dạy học bao gồm truyện dân gian (cổ tích, truyện cười), văn xuôi, thơ, ca dao, đồng dao, kịch. Ở cấp trung học cơ sở, văn bản văn học được dạy học gồm truyện (cổ tích, truyện ngắn, truyện cười, truyền thuyết), tiểu thuyết, thơ, ca dao tục ngữ, kí, tản văn, riêng lớp 8 và 9 thêm truyện thơ Nôm, kịch, chèo.