Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn 1. Cơ sở lý luận Việc xây dựng kế hoạch môn học và thiết kế bài giảng không thể tách rời các công văn, thông tư và hướng dẫn của cấp trên: Thông tư số: 28 ngày 04 tháng 09 năm 2020 của Bộ GD&ĐT về việc đổi mới hình thức phương pháp dạy học “Dạy học có ứng dụng CNTT, ngành giáo dục hướng tới tối thiểu 15% số tiết học theo hình thức dạy học trực tiếp có ứng dụng CNTT”; công văn số: 5512/BGDĐT - GDTrH V/v xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường ngày 18 tháng 12 năm 2020; công văn số: 4040/BGDĐT - GDTrH V/v hướng dẫn thực hiện Chương trình GDPT cấp THCS, THPT ứng phó với dịch Covid - 19 năm học 2021 - 2022 ngày 16 tháng 09 năm 2021; hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học hằng năm của Sở GD - ĐT Nghệ An và cụ thể hóa việc thực hiện nhiệm vụ của trường THPT Quỳnh Lưu 4, trường THPT Diễn Châu 5. Chúng ta cũng biết rằng, kế hoạch môn học, hoạt động giáo dục là kế hoạch thực hiện chương trình môn học, hoạt động giáo dục ở mỗi khối lớp đảm bảo hiệu quả theo mục tiêu, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực được quy định trong chương trình môn học, hoạt động giáo dục; phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, nhà trường và đối tượng học sinh.
Kế hoạch bài dạy do giáo viên thiết kế bao gồm các hoạt động của học sinh và giáo viên trong quá trình dạy học một tiết học/bài học/chủ đề nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh được kiến thức và đạt được các năng lực, phẩm chất cần thiết. Về yêu cầu, nguyên tắc trong xây dựng kế hoạch môn học đảm bảo 4 yêu tố: Thứ nhất, đảm bảo tính pháp lý tức là xây dựng kế hoạch môn học phải dựa trên các căn cứ pháp lý cụ thể như khung thực hiện chương trình môn học, công văn hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của Sở GD&ĐT, công văn thực hiện nhiệm vụ năm học, kế hoạch của nhà trường; Thứ hai, đảm bảo tính khả thi tức là xây dựng kế hoạch môn học phải dựa trên đặc điểm của tổ chuyên môn và của nhà trường, đặc điểm học sinh, tình hình đội ngũ, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, phòng học bộ môn, sân bãi tập luyện…. Thứ ba, đảm bảo logic của mạch kiến thức, tính thống nhất trong và giữa các môn học, các chủ đề và hoạt động giáo dục. Thứ tư, đảm bảo tính linh hoạt tức là xây dựng kế hoạch môn học phải luôn linh hoạt, không cứng nhắc để phù hợp với tình hình thực tế trong mọi bối cảnh, khi cần thiết có thể điều chỉnh được cả về nội dung lẫn thời gian thực hiện.
Yêu cầu, nguyên tắc thiết kế bài giảng theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực học sinh 3 skkn Thứ nhất, trước khi thiết kế bài giảng phải nghiên cứu kỹ đối tượng học sinh, xem xét CSVC, trang thiết bị…để thiết kế bài giảng. Khi thiết kế bài giảng giáo viên cần thực hiện một cách cẩn thận nhưng linh hoạt, tránh tình trạng coi bài giảng là công thức cố định để tuân thủ. Khi cần thiết để phù hợp với thực tế thì có thể linh hoạt thay đổi nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu giáo dục. Thứ hai, đảm bảo sự phù hợp của chuỗi hoạt động học từ khởi động, hình thành kiến thức mới đến luyện tập và vận dụng.
Thứ ba, bám sát phương pháp và kỹ thuật dạy học, tránh sự đơn điệu trong việc xây dựng kế hoạch. Thứ tư, đảm bảo sự tham gia tích cực của học sinh. Cơ sở thực tiễn 1. Đặc trưng môn học GDTC 10 và tâm lý lứa tuổi học sinh THPT Đặc trưng của GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và sự phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người.
Thông qua dạy học động tác và tổ chức các hoạt động, giúp cho HS hình thành và phát triển được các tổ chất thể lực cơ bản như: Nhanh, mạnh, bền, khéo léo và mềm dẻo; khả năng thích ứng của cơ thể; trí nhớ vận động; phản ứng của cơ thể; khả năng chăm sóc và phát triển sức khoẻ; khả năng hoạt động thể thao;.từ đó giúp cho HS phát triển khả năng trình diễn, thi đấu và nghề nghiệp. Tuổi học sinh THPT là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể. Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa, cân đối. Tư duy ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí, năng lực vận động có điều kiện phát triển mạnh.
Ở tuổi này, các em dễ bị kích thích và sự biểu hiện của nó cũng giống như ở tuổi thiếu niên, vì vậy cần có sự động viên, khích lệ, giao nhiệm vụ cho các em. Xuất phát từ phía nội dung chương trình sách giáo khoa GDTC 10 hiện hành và định hướng chương trình SGK GDPT mới Nội dung chương trình sách giáo khoa GDTC 10 hiện hành Thứ nhất, được xây dựng theo định hướng nội dung, nặng về truyền thụ kiến thức, chưa chú trọng giúp học sinh vận dụng kiến thức học được vào thực tiễn. Vì vậy học sinh phải học và ghi nhớ rất nhiều nhưng khả năng vận dụng vào đời sống rất hạn chế. Thứ hai, có nội dung giáo dục gần như đồng nhất cho tất cả học sinh; việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh ngay cả ở cấp trung học phổ thông chưa được xác định rõ ràng.
Thứ ba, sự kết nối giữa chương trình các cấp học trong một môn học và giữa chương trình các môn học chưa chặt chẽ; một số nội dung giáo dục bị trùng lặp, chồng chéo hoặc chưa thật sự cần thiết đối với học sinh phổ thông. 4 skkn Thứ tư, thiếu tính mở nên hạn chế khả năng chủ động và sáng tạo của địa phương và nhà trường cũng như của tác giả sách giáo khoa và giáo viên. Định hướng nội dung chương trình SGK GDPT mới Thứ nhất, được xây dựng theo mô hình phát triển năng lực, giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất, năng lực để giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống nhờ vận dụng hiệu quả và sáng tạo những kiến thức đã học. Thứ hai, phân biệt rõ hai giai đoạn: Giai đoạn giáo dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12).
Đồng thời thiết kế một số môn học trong đó có Giáo dục thể chất theo các chủ đề, tạo điều kiện cho học sinh lựa chọn những chủ đề phù hợp với sở thích và năng lực của bản thân. Thứ ba, chú ý hơn đến tính kết nối giữa chương trình của các lớp học, cấp học trong từng môn học và giữa chương trình của các môn học trong từng lớp học, cấp học. Việc xây dựng Chương trình tổng thể, lần đầu tiên được thực hiện tại Việt Nam, đặt cơ sở cho sự kết nối này. Thứ tư, bảo đảm định hướng thống nhất và những nội dung giáo dục cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc.
Trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương, nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, của cơ sở giáo dục, góp phần bảo đảm kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền và xã hội. Xuất phát từ thực trạng về xây dựng kế hoạch môn học và thiết kế bài giảng GDTC lớp 10 THPT trong bối cảnh hiện nay tại tỉnh Nghệ An Thực trạng về xây dựng kế hoạch môn học GDTC lớp 10 - Coi nội dung, chương trình sách giáo viên là công thức cố định mang tính pháp lý nên bắt buộc giáo viên không được cắt xén chương trình vì vậy dẫn tới không phù hợp với năng lực của HS cũng như điều kiện thực tế từng địa phương, từng nhà trường. - Phần lớn đội ngũ giáo viên GDTC còn cập nhật chưa kịp thời các tinh thần đổi mới về chuyên môn. - Coi phân phối chương trình thường lệ còn nặng về tính pháp lý.
- Phần xây dựng KHGD còn cứng nhắc, nặng về kiến thức không có tính thực tiễn cao, vì vậy việc phù hợp với các bối cảnh là rất hạn chế. Thực trạng về thiết kế bài giảng GDTC lớp 10 - Việc xác định mục tiêu của bài học thì đại đa số giáo viên vẫn còn thực hiện theo chương trình 2006 (kiến thức và kỹ năng). - Phương pháp giảng dạy chủ yếu là mệnh lệnh, nêu nội dung nên chưa động viên, khích lệ học sinh trong quá trình học tập. - Việc chuyển giao nhiệm vụ còn bình quân chủ nghĩa.
5 skkn - Sự tương tác giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh với giáo viên còn quá ít. - Phần nhận xét đánh giá chủ yếu là phê bình, ít có sự tuyên dương nên chưa tạo được sự hứng khới để cho các giờ sau học tốt hơn. - Nhiều giáo viên chưa đưa ra được các sản phẩm dự kiến theo hướng mục tiêu cho mỗi hoạt động, điều này làm cho học sinh học tập không có động cơ khi tiếp thu nhiệm vụ. - Còn thiết kế theo kiểu truyền thống và đặc thù môn học, đó là dạy học ngoài trời nên chưa có phương án dự phòng và còn bị động trước những bối cảnh như hiện nay.
Thực trạng về động cơ học tập GDTC và kết quả đạt được về phẩm chất năng lực của học sinh THPT trong những năm gần đây Có sự tăng tiến về thể lực nhưng các kỹ năng mềm còn yếu; học sinh còn thụ động, chưa tự tin trong giao tiếp; số học sinh tự chủ, tự học còn ít, sự chủ động và sáng tạo trong quá trình học tập cũng như trong các hoạt động khác chưa nhiều, chưa tự tin trong chọn nghề; việc tự tổ chức hoạt động nhóm còn ít, sự tiếp nhận nhiệm vụ còn mang tính cá thể, chưa chủ động trong tính tập thể. Minh chứng cho cơ sở lý luận và thực tiễn, chúng tôi đã tiến hành thực hiện điều tra khảo sát thực trạng và thu được kết quả như sau: Bảng 1.