CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THỊ TRẤN TRẠM TRÔI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Cơ cấu tổ chức và triển khai quản lý hệ thống giáo dục ở mỗi nước phản ánh quan điểm, định hướng chiến lược cho sự phát triển nhân lực quốc gia. Các định hướng đổi mới phát triển nhân lực luôn được gắn liền với nội dung phát triển ĐNGV.
Tại Liên Xô (cũ), các nhà nghiên cứu QLGD như M. đã rất quan tâm tới việc nâng cao chất lượng dạy học thông qua các biện pháp quản lý có hiệu quả. Muốn nâng cao chất lượng dạy học phải có ĐNGV có năng lực chuyên môn. Họ cho rằng, kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác quản lý ĐNGV [39] [47].
Ở trong nước Với phương châm “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 khóa VIII đã nêu rõ “ Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục là phải đặc biệt chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và chuẩn hóa ĐNGV cũng như CBQL giáo dục” [1, tr.12] đồng thời đề ra những quyết sách về chăm lo xây dựng ĐNGV, đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng, chính sách đãi ngộ nhà giáo và chế độ sử dụng giáo viên hợp lý, “thực hiện chính sách khuyến khích vật chất và tinh thần đối với giáo viên, khuyến khích người giỏi làm nghề dạy học. kết hợp đào tạo giáo viên mới với bồi dưỡng thường xuyên những giáo viên đang làm việc” [1, tr. Trong Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 của Chính phủ cũng khẳng định “Phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng, đáp ứng yêu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục” [16, tr. Tại Hội thảo khoa học chất lượng giáo dục và vấn đề đào tạo GV do khoa Sư 6 phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức vào tháng 4 năm 2004, nhiều báo cáo tham luận của các tác giả như Đặng Xuân Hải, Trần Bá Hoành, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Mai Trọng Nhuận,.
đã đề cập đến công tác quản lý ĐNGV trước yêu cầu mới [26] [32] [35] [37] [41]. Các công trình nghiên cứu giáo dục như “Giải pháp đổi mới phương thức đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên” của tác giả Đinh Quang Báo năm 2005 [7], “Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên” của nhóm tác giả Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa năm 2007 cũng đã đưa ra nhiều giải pháp hữu hiệu trong công tác quản lý ĐNGV [6]. Báo cáo nghiên cứu, đánh giá thực trạng đội ngũ nhà giáo Việt Nam do Viện chiến lược và chương trình giáo dục tiến hành đã đề cập đến số lượng, chất lượng GV, việc thực hiện chế độ, chính sách đối với GV, từ đó đưa ra các giải pháp quản lý ĐNGV đạt hiệu quả. Thời gian qua, việc nghiên cứu về ĐNGV, quản lý và bồi dưỡng ĐNGV ở các cấp học, bậc học khác nhau với các quan điểm tiếp cận khá đa dạng ở một số đề tài, công trình nghiên cứu, luận án, luận văn thạc sỹ như: Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục giai đoạn 2005 - 2010” [46] nhằm triển khai thực hiện chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.
Đề án đã làm rõ hiện trạng, phân tích các thành tựu, yếu kém và nguyên nhân; trên cơ sở đó xác định mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và các bước đi để tạo chuyển biến cơ bản và toàn diện trong công tác phát triển nhà giáo và cán bộ QLGD theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa. Tác giả Vũ Đình Chuẩn (2007) nghiên cứu về “Phát triển đội ngũ giáo viên tin học trường THPT theo quan điểm chuẩn hóa và xã hội hóa” đã chỉ ra cơ sở lý luận về phát triển GV nói chung và phát triển đội ngũ GV tin học THPT nói riêng, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ GV tin học THPT [18]. Tác giả Lã Thị Oanh (2007) nghiên cứu đề tài “Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởng trường THPT đạt Chuẩn Quốc gia ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” đã đề xuất một số biện pháp quản lý ĐNGV đáp ứng yêu cầu của trường 7 THPT đạt Chuẩn Quốc gia [42]. Tác giả Phùng Văn Thời (2010) viết đề tài về “Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THPT huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn” đã nghiên cứu cơ sở lý luận về ĐNGV, đánh giá thực trạng công tác quản lý đội ngũ và đề xuất một số biện pháp nâng cao năng lực nghề nghiệp cho ĐNGV THPT [45].
Tác giả Lê Trung Chinh (2015) viết đề tài “Phát triển đội ngũ giáo viên THPT thành phố Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay” với những nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng về phát triển ĐNGV đồng thời đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ trước những yêu cầu đổi mới giáo dục [17]. Tác giả Nguyễn Thanh Dân (2010) nghiên cứu về “Thực trạng và biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên THCS ở huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau” đã tổng kết lý luận và đánh giá thực trạng ĐNGV, đề xuất một số biện pháp quản lý hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ [19]. Tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2015) viết đề tài “Quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp ở trường THCS Nguyễn Huy Tưởng, Đông Anh, Hà Nội” Luận văn đã nghiên cứu lý luận về Chuẩn nghề nghiệp GV và đề xuất các biện pháp bồi dưỡng ĐNGV đáp ứng các tiêu chuẩn, tiêu chí nghề nghiệp trong giai đoạn thực hiện đổi mới giáo dục hiện nay [23]. Nhìn chung, các đề tài, luận án, luận văn đã đề cập đến nhiều góc độ khác nhau về quản lý ĐNGV ở các loại hình và ở các vùng miền khác nhau.
Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu hoạt động quản lý ĐNGV trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay ở cấp học THCS. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Quản lý đội ngũ giáo viên ở trường Trung học cơ sở thị trấn Trạm Trôi huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội trong bối cảnh thực hiện chương trình phổ thông 2018” là rất cần thiết đối với ngành giáo dục Hà Nội nói chung, trường THCS thị trấn Trạm Trôi nói riêng nhằm góp phần thực hiện thành công chủ trương đổi mới giáo dục của Đảng và Nhà nước đồng thời đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển tiềm năng kinh tế, văn hóa của thành phố du lịch trong tương lai. Các khái niệm cơ bản 8 1. Quản lý Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, hiện tượng quản lý đã xuất hiện từ rất sớm.
Từ khi con người biết tập hợp nhau lại, tập trung sức để tự vệ hoặc lao động kiếm sống thì bên cạnh lao động chung của mọi người đã xuất hiện những hoạt động có tổ chức, phối hợp, điều khiển đối với họ. Những hoạt động đó xuất hiện, tồn tại và phát triển như một tất yếu khách quan, là cơ sở đảm bảo cho các hoạt động chung của con người đạt được kết quả mong muốn. Đó chính là những dấu ấn đầu tiên của hoạt động quản lý.Mác: “Quản lý là lao động điều khiển lao động” [14, tr. Ông coi việc xuất hiện quản lý như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối hợp lại.
Ông viết: “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân… Một nhạc sĩ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” [14, tr. Xung quanh khái niệm quản lý còn có rất nhiều định nghĩa khác nhau. Frederick Winslow Taylor (1856-1915) là nhà thực hành quản lý khoa học về lao động đã nghiên cứu sâu các thao tác, các quá trình lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng công cụ, phương tiện lao động có hiệu quả nhất với năng suất và chất lượng lao động cao nhất. Trong tác phẩm “Những nguyên lý quản lý theo khoa học” năm 1911, ông đã khẳng định rằng, quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất [22].
Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”, tác giả H. Koontz lại khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm hoặc tổ chức. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [29, tr. Henry Fayol (1841-1925) đã xuất phát từ nghiên cứu các loại hình hoạt 9 động quản lý và phân biệt thành 5 chức năng cơ bản: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra, sau này, được kết hợp lại thành bốn chức năng cơ bản của quản lý: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.
Nghiên cứu của ông đã khẳng định rằng: khi con người lao động hợp tác thì điều quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành. Theo nghiên cứu của mình, ông đã đưa ra 14 nguyên tắc trong quản lý là: phân công lao động, quyền hạn, kỉ luật, thống nhất chỉ huy, thống nhất chỉ đạo, quyền lợi cá nhân phải phục tùng quyền lợi chung, tiền lương xứng đáng, tập trung hóa, sợi dây quyền hạn, trật tự, bình đẳng, ổn định đội ngũ, sáng kiến và tinh thần đồng đội… Những cống hiến của ông về lý luận quản lý mang tính phổ quát cao. Nhiều luận điểm đến nay vẫn còn có giá trị khoa học và thực tiễn [31].