mở đầu và kết thúc bằng hình thức thích hợp. Thứ tư, VB có mục đích thực hiện nhiệm vụ giao tiếp. Đây là cách định nghĩa hẹp về VB. Theo quan điểm trong SGK hiện hành, VB là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, sự tổ chức và sắp xếp hệ thống ngôn ngữ (câu, đoạn) làm nên VB.
Định nghĩa chỉ đề cập đến VB viết, VB in ấn chứ chưa đề cập đến dạng VB khác như VB nói hay hình thức biểu hiện đa dạng của VB ( có thể là kí hiệu, hình ảnh, đồ thị hoặc kết hợp nhiều chất liệu khác). Văn bản không phải là phép cộng đơn thuần của các câu mà giữa các câu trong văn bản có những sợi dây liên hệ chặt chẽ. Boost viết năm 1949: “Những sợi dây này kéo dài từ câu nọ sang câu kia nhiều đến nỗi tạo nên một mạng lưới dày đặc…, trong đó mỗi câu riêng biệt gắn bó chặt chẽ với những câu còn lại”.13] Như vậy, thông qua các quan niệm khác nhau về VB, có thể thấy rằng VB là một loại phương tiện ghi tin và truyền tải nội dung bằng hệ thống ngôn ngữ với các chất liệu khác ( hình ảnh, kí hiệu, âm thanh, đồ thị,. VB tồn tại chủ yếu ở dạng nói và dạng viết, có tính trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức thể hiện.
Những yêu cầu chung của một văn bản: Văn bản phải đảm bảo tính mạch lạc và liên kết Mạch lạc là sự liên kết về mặt nội dung của văn bản. Mạch lạc trong văn bản thể hiện cụ thể ở sự thống nhất về đề tài, sự nhất quán về chủ đề và sự chặt chẽ về logic. Trong văn bản, logic bao gồm logic khách quan và logic trình bày. Logic khách quan phản ánh quy luật tồn tại, vận động và phát triển của hiện thực.
Logic trình bày phản ánh mối quan hệ, sự sắp xếp hiện thực trong văn bản. Tính logic của văn bản thể hiện bằng hệ thống các từ quan hệ, từ chuyển tiếp, trật tự từ, trật tự câu trong văn bản. Như vậy, mạch lạc chính là sự thống nhất nội dung bên trong, là sự thống nhất và phát triển nghĩa của văn bản. Nó được thể hiện ra nhờ những yếu tố hình thức, mang tính vật chất.
Đó chính là liên kết. Bởi vậy liên kết là sự thể hiện vật chất của mạch lạc. Những 16 yếu tố thể hiện sự liên kết trong văn bản là phương tiện ngôn ngữ. Các phương tiện này có thể là danh từ, động từ, tính từ hoặc các kiểu cấu tạo câu.
VD: Tiết 8, tuần 9, SGK Tiếng Việt 3 tập 1, trang 73 Mùa hoa sấu (1) Vào những ngày cuối xuân, đầu hạ, khi nhiều loài cây đã khoác màu áo mới thì cây sấu mới bắt đầu chuyển mình thay lá. (2) Đi dưới rặng sấu, ta sẽ gặp những chiếc lá nghịch ngợm. (3) Nó quay tròn trước mặt, đậu lên đầu, lên vai ta rồi mới bay đi. (4) Nhưng ít ai nắm được một chiếc lá đang rơi như vậy.
(5) Từ những cành sấu non bật ra những chùm hoa trắng muốt, nhỏ như những chiếc chuông tí hon. (6) Hoa sấu thơm nhẹ. (7) Vị hoa chua chua thấm vào đầu lưỡi, tưởng như vị nắng non của mùa hè mới đến vừa đọng lại. Văn bản có sự thống nhất về chủ đề được thể hiện qua hệ thống các động từ, tính từ, ngữ động từ, ngữ tính từ: (1) thay lá, (2) nghịch ngợm, (3) quay tròn, đậu, bay đi, (4) rơi, (5) bật ra, trắng muốt, nhỏ, (6) thơm nhẹ, (7) chua chua, thấm vào đầu lưỡi.
Các từ ngữ này cùng hướng vào mô tả việc cây sấu ra hoa đã được nêu trong tiêu đề của văn bản.