Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI NHẰM RÈN LUYỆN KỸ NĂNG QUAN SÁT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Nhiều tác giả quan tâm, đề cao vai trò của QS, cho rằng QS là nguồn gốc của mọi tri thức, là con đường quan trọng để nhận thức thế giới khách quan. Các đại diện tiêu biểu như: J.J Rutxo, Petxtalogi coi QS là một phương pháp dạy học hữu hiệu, QS được thể hiện thông qua “nguyên tắc vàng” - dạy học trực quan - QS là phương tiện quan trọng để kích thích tính tích cực và phát triển tư duy cho các em.
Các tác giả đều cho rằng, lời nói không đi trước sự vật, muốn nắm bắt được sự vật, hiện tượng một cách vững chắc phải cho trẻ nhìn, nghe, sờ, ngửi bằng tất cả các giác quan của mình. Vấn đề QS cũng được bàn đến trong những nghiên cứu của N. Xamorukova, Kym Iving, MarkG, Bredekamp S, Lay- Dopyera M and Dopyera J, Gae G. & Abbe K, Betty R, Leonie A, Beecher B, Dockett S, Farmer S, Death E, v.
Các kết quả nghiên cứu đề cập tới phương pháp QS nói chung và QS của trẻ Mầm non nói riêng [4] Trong các nghiên cứu của M.Goorki, Lỗ Tấn A.Xâytlin, Alếcxêi Tônxtôi, Gôgôn (và các nhà văn uy tín của thế giới) đều cho rằng QS là vô cùng quan trọng, QS là phương pháp đầu tiên, có tính chất khởi đầu trong các phương pháp tìm tài liệu, coi QS là công cụ để tìm kiếm tư liệu trong sáng tác văn chương để tạo nên các áng văn chương bất hủ. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lỗ Tấn khuyên chúng ta cần QS thật nhiều và khi QS thì hết sức chú ý, hết sức tập trung và phải QS toàn diện.Xâytlin (Nga) chú trọng tới sự “tự QS” của mỗi con người, ông chỉ ra rằng chú ý của con người có vai trò cao trong khi QS, ông nói “sự chú ý là tiền đề dẫn tới việc tự QS; là tiền đề tất yếu để QS”. Alếcxêi Tônxtôi nói rằng: “Cần tập cho mình biết QS. Phải thích công việc này”.
Các tác giả Frederick Crews (Mỹ), X.M Cheplov (Nga) quan tâm tới QS ở góc độ tri giác, điểm nhìn. Họ cho rằng điểm nhìn được thể hiện đồng thời ở 2 khía cạnh: điểm nhìn và thái độ. Cùng quan tâm tới vấn đề này, nhóm các tác giả Pháp trong cuốn “Tiếng Pháp văn học và thực hành quyển 3” (Literature et pratique du francais 3e) chỉ ra rằng có 3 loại điểm nhìn: điểm nhìn bên ngoài (người viết nhìn đối tượng từ bên ngoài); điểm nhìn bên trong (người viết như hiểu được tâm trạng của đối tượng); và điểm nhìn thấu suốt (người viết như hiểu biết tường tận mọi chi tiết về sự vật, đối tượng).X Vưgốtxki nghiên cứu về QS trong mối liên hệ với ngôn ngữ, chỉ ra rằng QS là một hoạt động tâm lí phức tạp trong đó tri giác, tư duy và ngôn ngữ liên kết lại trong một hành động trí tuệ thống nhất và toàn vẹn. Borich trong tài liệu “Kỹ năng quan sát để giảng dạy hiệu quả” giới thiệu cách học cách quan sát trong tám lĩnh vực: môi trường học tập, quản lý lớp học, sự rõ ràng của bài học, sự đa dạng trong giảng dạy, định hướng nhiệm vụ, sự tham gia của học sinh, sự thành công của học sinh và các quá trình suy nghĩ cao hơn.
Tám lĩnh vực này đã được các nhà nghiên cứu tìm thấy có liên quan đến kết quả nhận thức, xã hội và cảm xúc mong muốn ở người học. Cuốn sách này cũng hướng dẫn người học cách quyết định những gì cần quan sát, cách quan sát hiệu quả và hiệu quả trong lớp học, và cách áp dụng những gì HS đã học được thông qua quan sát để phát triển như một phản xạ [5]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Derek Denby với bài báo khoa học “Kỹ năng quan sát” [8] tác giả đã lí giải và làm rõ vấn đề “Làm thế nào để phát triển kỹ năng quan sát của học sinh trong thí nghiệm hóa học”. Bài báo đã đưa ra các chứng minh nói về tầm quan trọng của quan sát: Việc quan sát đĩa nuôi cấy của Alexander Fleming đã dẫn đến sự phát triển của thuốc kháng sinh.
Cuộc điều tra về một loại keo của Spencer Silver và Arthur Fry đã giới thiệu cho tất cả chúng ta về những tờ giấy dán. Việc quan sát một vạch không giải thích được trong quang phổ mặt trời trong một lần nguyệt thực đã xác định heli là một nguyên tố mới. Hình ảnh trên các tấm ảnh của Henri Becquerel đã khiến Marie Curie nghĩ đến một từ mới - phóng xạ. Mỗi quan sát này đều có kết quả có sự ảnh hưởng sâu sắc.
Từ đó nhắc nhở học sinh về tầm quan trọng của việc quan sát của học sinh trong thực hành hóa học. Ở Việt Nam Các tác giả như Tô Hoài, Phạm Hổ, Nguyễn Quang Sáng, Vũ Tú Nam trong các nghiên cứu và kinh nghiệm của mình, đã đề cập tới QS ở khía cạnh ý thức của con người khi tham gia QS, kinh nghiệm và cách thức QS khoa học, cách ghi chép hiệu quả. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng trong mục “Đãi cát tìm vàng” đã thông qua câu chuyện cuộc sống và sáng tác của mình nói với các bạn trẻ lời khuyên chí tình, ông viết: “Nói đến viết văn, ai cũng bảo muốn viết văn phải QS. Đúng vậy! Nhưng QS thế nào? Theo tôi, không phải QS bằng mắt mà bằng tấm lòng”.
Nói về ý thức khi QS, Tô Hoài cho rằng: “thói quen mài rũa cái nhìn, cái nghe, cái nghĩ, đó là công việc bắt sức óc phải chăm chú tìm tòi, đổi mới, lọc lõi đến tận chi tiết cho phong phú”. Tác giả còn cung cấp cho bạn đọc cách thức QS: “QS không phải chỉ là đứng ngắm mà QS bắt ta hòa mình vào cuộc sống”. Nếu như người nào luôn “chỉ quanh quẩn gặm nhấm dăm ba suy nghĩ đã có sẵn trong sách, trong đầu, không chịu tiếp xúc và tìm hiểu đời sống, không thể có cái gì mới để viết ra được. Và cách QS hiệu quả là: “phải thấy ra nét chính, thấy những tính riêng, moi móc được những ngóc ngách của sự vật, của vấn đề".
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhà nghiên cứu Nguyễn Trí cho rằng: "QS là sự vận dụng các giác quan để xem xét, nhận biết sự vật và hiện tượng nào đó”. Tác giả cũng chỉ ra cho mọi người thấy được việc QS không quá khó “Đây là một khả năng mà mọi người có thể luyện tập, trau dồi để trở nên thành thạo”, đồng thời tác giả đề cao vai trò của liên tưởng, tưởng tượng; tác giả chỉ ra cho người đọc thấy “Khi QS và hồi tưởng, người QS thường từ những điều mình QS được, nhớ tới hình ảnh này, hình ảnh khác tương tự. Đó là quá trình tưởng tượng, liên tưởng. Nhờ tưởng tượng, liên tưởng phong phú, táo bạo, mới mẻ, người QS sẽ có nhận xét cụ thể, có tác động đến người đọc”.
Các tác giả Nguyễn Quý Thanh - Nguyễn Công Khanh, nhóm tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang, tác giả Trần Trọng Thủy đề cập tới QS trong tâm lí học và chú ý nghiên cứu QS qua đặc điểm của tri giác và năng lực nhìn. Nguyễn Quý Thanh - Nguyễn Công Khanh nói rằng “QS là quá trình tri giác (mắt thấy, tai nghe) và ghi chép lại mọi yếu tố liên quan đến đối tượng nghiên cứu, phù hợp với mục tiêu nghiên cứu nhằm mô tả, phân tích, nhận định, đánh giá đối tượng". Nhóm tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang cho chúng ta thấy QS ở khía cạnh khác. Theo các tác giả ,“Hình thức tri giác cao nhất, tích cực nhất, chủ động và có mục đích là QS làm cho tri giác của con người khác xa tri giác của con vật”.
Các tác giả còn đề cập tới năng lực QS và các điều kiện cần thiết để QS đạt kết quả tốt nhất. KNQS cũng đã được một số tác giả quan tâm, nghiên cứu: Trần Thị Tố Oanh trong các nghiên cứu của mình đã đề cập tới vấn đề đặc điểm KNQS của HS TH. Bài viết đi sâu phân tích về nội dung KNQS của HSTH, các đặc điểm KNQS bao gồm: bản chất của QS, các kiểu QS, cấu trúc KNQS; đặc điểm HSTH, chủ thể của đối tượng QS. Cùng quan tâm tới KNQS, Trịnh Thị Xim đề cập tới việc nghiên cứu KNQS của sinh viên Cao đẳng Sư phạm ngành giáo dục Mầm non trong giáo dục trẻ Mầm 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Tác giả đã chỉ ra rằng, KNQS trẻ là một KN rất cần thiết trong các KN sư phạm của GV Mầm non và đề xuất các biện pháp RLKNQS trẻ. Luận án của Phạm Minh Diệu tập trung xây dựng hệ thống bài tập giúp HS ở trung học cơ sở rèn luyện năng lực QS, tưởng tượng trong dạy học VMT. Tác giả Nguyễn Ngọc Ngân trong luận án tiến sĩ Rèn luyện kĩ năng quan sát trong dạy học làm văn miêu tả cho học sinh lớp 5 dân tộc Mông ở Lào Cai đã nghiên cứu về kĩ năng quan sát, rèn luyện kĩ năng quan sát ở tiểu học và đề xuất các biện pháp rèn kĩ năng quan sát trong dạy học làm văn miêu tả cho học sinh lớp 5 dân tộc Mông ở Lào Cai. Như vậy, rèn kĩ năng quan sát cho học sinh đầu cấp tiểu học có ý nghĩa rất quan trọng nhất là trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội bởi vì đối tượng học tập của học sinh là các sự vật hiện tượng diễn ra trong môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh.
HS cần quan sát một cách tỉ mỉ tinh tế thì mới khám phá và phát hiện ra đặc điểm, dấu hiệu của các sự vật hiện tượng. Vì vậy, việc nghiên cứu rèn kĩ năng quan sát trong quá trình học tập môn TNXH ở tiểu học có giá trị cả về lí luận và thực tiễn. Một số khái niệm công cụ 1. Kỹ năng Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê), kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức đã thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó áp dụng vào thực tế [5].
Kỹ năng (Tiếng Anh: Skill; Tiếng Pháp: Capacité) là khả năng của con người trong việc vận dụng kiến thức để thực hiện một nhiệm vụ nghề nghiệp mang tính kỹ thuật, giải quyết vấn đề tổ chức, quản lý và giao tiếp.[7] Trong cuộc sống, con người cần có rất nhiều kỹ năng để sống, hòa nhập với cộng đồng, đóng góp cho nền kinh tế hiện đại.