Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM Vấn đề quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội được đặt ra như là một khía cạnh đặc biệt của hoạt động quyết định hình phạt trên cả phương diện nghiên cứu lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự bởi đối tượng áp dụng của nó là trẻ em - nhóm xã hội được pháp luật hết sức chú trọng bảo hộ. Vậy nên, để đánh giá và hoàn thiện các quy định pháp luật về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, nhất thiết phải làm rõ về mặt lý luận những tính chất, đòi hỏi đặc thù của hoạt động này. Theo đó, những vấn đề lý luận cơ bản nhất được tập trung nghiên cứu ở Chương này sẽ bao gồm: khái niệm, yêu cầu (nguyên tắc), căn cứ quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội. Bên cạnh đó việc so sánh, tham chiếu quy định pháp luật một số nước trên thế giới cũng là một căn cứ hữu ích trong việc đánh giá, hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.
KHÁI NIỆM VÀ CÁC NGUYÊN TẮC QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 1. Khái niệm người chưa thành niên phạm tội Trong thực tiễn đời sống, người chưa thành niên hay trẻ em đều được hiểu là những người chưa phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần, chưa có khả năng nhận thức đầy đủ, kiểm soát chính xác suy nghĩ, hành vi của mình. Về mặt thuật ngữ, “Juvenile” (người chưa thành niên) trong tiếng Anh có nguồn gốc từ tiếng Latin “iuvenilis” nghĩa là người trẻ, người chưa phát triển đầy đủ hoặc người chưa đạt độ tuổi luật định [60, p. Trong ngôn ngữ 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiếng Việt, “thành niên” là một từ Hán Việt được từ điển giải thích với nghĩa “đến tuổi trưởng thành, được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ” [57, tr.
Theo đó, người chưa thành niên là người chưa trưởng thành, chưa được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ quyền và nghĩa vụ. Như vậy, về mặt ngữ nghĩa, khái niệm người chưa thành niên hàm ý chỉ trạng thái “chưa hoàn thiện, đầy đủ” của con người ở hai khía cạnh: thứ nhất, là mức độ phát triển về mặt thể chất, tinh thần; thứ hai, là địa vị, tư cách pháp lý của con người ấy theo luật định. Trạng thái chưa thành niên được đánh dấu bởi tiêu chí chung nhất là độ tuổi. Trong các văn bản pháp lý quốc tế và các chương trình của Liên Hợp quốc về vấn đề trẻ em sử dụng đồng thời cả hai khái niệm trẻ em và người chưa thành niên.
Chẳng hạn, Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên Hợp quốc năm 1989 xác định rõ: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [49, tr. Hay Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh), được Đại Hội đồng Liên Hợp quốc thông qua ngày 29/11/1985 nêu rõ: “Người chưa thành niên là trẻ em hay người ít tuổi tùy theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xét xử vì phạm pháp theo một phương thức khác với việc xét xử người lớn” [49, tr.202] hoặc Quy tắc tối thiểu phổ biến về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do thông qua ngày 14/12/1990 của Liên Hợp quốc nêu cụ thể hơn: “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên” [49, tr. Thậm chí, trong Hướng dẫn về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên (Hướng dẫn Riyadh) năm 1990 của Liên Hợp quốc mặc dù không đưa ra một cách cụ thể về khái niệm người chưa thành niên, song thông qua các 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quy định cũng thể hiện tư tưởng - “người chưa thành niên là những người dưới 18 tuổi” [49, tr.
Tuy nhiên, sự khác nhau về giới hạn độ tuổi này là điều không tránh khỏi khi xem xét hệ thống pháp luật của từng quốc gia khác nhau trên toàn thế giới vì “người chưa thành niên phạm tội” không những là khái niệm mang tính chính trị - pháp lý mà còn có ý nghĩa xã hội - nhân đạo sâu sắc. Mặc dù phạm vi nghiên cứu có thể khác nhau song đa số các văn kiện quốc tế đều đưa ra quan điểm thống nhất “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi”. Công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên Hợp quốc còn những điều khoản để ngỏ (dự phòng) cho các nước quy định về độ tuổi cho người chưa thành niên để các quốc gia căn cứ vào sự phát triển thể chất, tinh thần của công dân, tùy thuộc các điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, truyền thống, lịch sử, phong tục, cũng như thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện ở nước mình mà có những quy định khác nhau. Theo đó, dưới góc độ pháp luật quốc tế, khái niệm người chưa thành niên được hiểu là người dưới 18 tuổi hay là trẻ em chưa đạt độ tuổi trưởng thành theo luật định.
Quy định về độ tuổi trưởng thành của cá nhân là điểm mốc để phân biệt người chưa thành niên với người thành niên, là cơ sở xác định sự khác biệt về địa vị pháp lý giữa hai loại chủ thể này trong các quan hệ pháp luật. Tuy vậy, cho dù ở nơi đâu thì đối với người chưa thành niên vốn chưa phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần cũng cần phải có giới hạn về quyền, nghĩa vụ và một chế độ bảo hộ đặc biệt. Khái niệm người chưa thành niên phạm tội tất nhiên được hợp thành từ hai khái niệm: Người chưa thành niên và phạm tội - thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là bất cứ người nào chưa đủ tuổi trưởng thành theo luật định mà thực hiện hành vi thuộc mặt khách quan của một tội phạm cụ thể đều trở thành người chưa thành niên 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phạm tội.
Sở dĩ như vậy bởi vì chủ thể của tội phạm phải thỏa mãn những yêu cầu nhất định về năng lực trách nhiệm pháp lý mà không phải tất cả những người chưa trưởng thành thỏa mãn được. Trong khoa học luật hình sự, tội phạm được hiểu là “hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi” [5, tr. Điều này có nghĩa, chủ thể của tội phạm phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Năng lực trách nhiệm hình sự thể hiện ở hai khả năng của chủ thể là nhận thức và điều khiển hành vi.
Khả năng nhận thức của con người phụ thuộc vào độ tuổi và trạng thái thần kinh. Khả năng điều khiển hành vi lại được quyết định bởi khả năng nhận thức cùng với sự tự do, lành mạnh về thể chất. Theo đó, một người chỉ có năng lực trách nhiệm hình sự khi đạt đến độ tuổi nhất định, không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh lý khác làm mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do vậy, pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới từ lâu đều thừa nhận tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự của người mắc bệnh tâm thần [62, p.
Không thống nhất như vậy, về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, pháp luật của các quốc gia trên thế giới quy định rất khác biệt, dao động phổ biến từ 7 đến 18 tuổi. Điều này theo GS. Gerry Maher nhận định là “hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm của nhà làm luật và dường như không có quy luật chung”. Ông đã dẫn ra một số quốc gia tuy không có sự khác biệt lớn về văn hóa hay đặc điểm nhân chủng, tâm sinh lý mà lại quy định khác nhau về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như: Singapore, Ấn Độ, Kenya, Jamaica là 7 tuổi; Scotland là 8 tuổi; Hà Lan, Canada 12 tuổi; Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch và Na Uy là 15 tuổi; các bang của Hoa Kỳ quy định khác nhau có thể là 16 hoặc 18 tuổi…[61, p.
Như vậy, dưới góc độ khoa học luật hình sự, khái niệm đang nghiên cứu được định nghĩa như sau: Người chưa thành niên phạm tội là người mà 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm chưa đến tuổi trưởng thành nhưng có năng lực trách nhiệm hình sự và đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định. Áp dụng khái niệm chung này để xây dựng khái niệm người chưa thành niên phạm tội riêng theo pháp luật Việt Nam cần phải kết hợp với quy định về tuổi thành niên, năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong pháp luật thực định của nước ta. Theo pháp luật Việt Nam, độ tuổi thành niên được xác định là đủ 18 tuổi - thống nhất với tiêu chuẩn chung của pháp luật quốc tế. Hiến pháp Việt Nam không định nghĩa người thành niên hay chưa thành niên nhưng các quy định về quyền công dân, nhất là quyền về chính trị đã tỏ rõ quan điểm về công dân thành niên là công dân đủ 18 tuổi trở lên.
Trực tiếp và rõ ràng hơn, Điều 18 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên”. Điều 161 Bộ luật lao động năm 2012 cũng thống nhất: “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi”. Như vậy, pháp luật Việt Nam thống nhất xác định tuổi thành niên là đủ 18 tuổi, người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên.
Về năng lực trách nhiệm hình sự, trong pháp luật Việt Nam hiện nay không có định nghĩa pháp lý.