Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống pháp luật dân sự, bất động sản—đặc biệt là đất đai—mang đặc tính vật lý cố định và không thể di dời. Thuộc tính tự nhiên này đòi hỏi các nhà lập pháp phải thiết lập cơ chế pháp lý đặc thù nhằm điều chỉnh mối quan hệ tương hỗ giữa các bất động sản cạnh nhau, bảo đảm giá trị khai thác, sử dụng kinh tế và phục vụ đời sống xã hội. Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề là một trong những chế định cốt lõi thuộc nhóm quyền đối với bất động sản liền kề, có nguồn gốc lịch sử lâu đời từ khái niệm "quyền địa dịch" (praediales servitudes) trong Luật La Mã và tiếp tục được chuẩn hóa qua các bộ luật hiện đại.

Tại Việt Nam, quyền về lối đi qua đã được ghi nhận từ Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995, BLDS năm 2005 và tiếp tục được hoàn thiện tại Điều 254 thuộc Mục 1 Chương XIV của BLDS năm 2015. Mặc dù BLDS năm 2015 đã khắc phục nhiều điểm hạn chế của các văn bản trước, thực tiễn áp dụng cho thấy các tranh chấp liên quan đến lối đi qua giữa các chủ sử dụng đất vẫn diễn biến phức tạp, gia tăng về số lượng và phát sinh nhiều vướng mắc pháp lý chưa được dự liệu cụ thể.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Minh Ngọc (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2024; người hướng dẫn: ThS. Lê Thị Hải Yên) thực hiện nghiên cứu đề tài: "Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015". Mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu được xác định bao gồm:

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về bất động sản, bất động sản liền kề, bất động sản bị vây bọc và bản chất pháp lý của quyền về lối đi qua.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành (trọng tâm là BLDS năm 2015) về căn cứ xác lập, nội dung thực hiện, thay đổi, hiệu lực và căn cứ chấm dứt quyền về lối đi qua.
  3. Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua xét xử tại Tòa án, phát hiện các bất cập, mâu thuẫn và khoảng trống pháp lý.
  4. Đề xuất các giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh quyền về lối đi qua bất động sản liền kề.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống quy định pháp luật dân sự hiện hành điều chỉnh quyền về lối đi qua, quan điểm của giới luật học và thực tiễn xét xử tranh chấp tại Tòa án nhân dân. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào BLDS năm 2015 trong sự đối chiếu với BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 và kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia (tiêu biểu là BLDS Pháp năm 1804).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý luận vật quyền hạn chế (iura in re aliena) và quyền đối với bất động sản liền kề. Cơ sở pháp lý trực tiếp được tác giả trích dẫn và phân tích gồm các quy phạm trong BLDS năm 2015:

  • Điều 107: Phân loại bất động sản (đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; tài sản khác do luật định).
  • Điều 158: Quyền sở hữu và các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt.
  • Điều 245: Khái niệm quyền đối với bất động sản liền kề (bất động sản chịu hưởng quyền và bất động sản hưởng quyền).
  • Điều 246: Các căn cứ xác lập quyền đối với bất động sản liền kề.
  • Điều 247: Hiệu lực đối kháng và tính chất chuyển giao theo bất động sản.
  • Điều 254: Quyền về lối đi qua.
  • Điều 256: Căn cứ chấm dứt quyền đối với bất động sản liền kề.
  • Điều 624: Định nghĩa và hiệu lực của di chúc.

Cùng với đó, tác giả tham chiếu các quy định tại Điều 280 BLDS năm 1995, Điều 275 BLDS năm 2005, và các Điều 682, 684, 685 BLDS Pháp. Nghiên cứu cũng tiếp thu có chọn lọc các công trình học thuật của các học giả: PGS.TS. Phạm Công Lạc (2002, 2004, 2006), GS.TS. Nguyễn Ngọc Điện (1999, 2001), TS. Đặng Lê Phương Uyên (2020, 2021), ThS. Mai Thị Mị (2014), ThS. Lê Huyền Trang (2017), ThS. Nguyễn Thùy Dương (2021), TS. Diệp Ngọc Định (2021), PGS.TS. Phùng Trung Tập (2019)...

Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ nội hàm các khái niệm pháp lý, cấu trúc điều luật và nghĩa vụ của các bên.
  • Phương pháp chứng minh: Đưa ra các luận cứ, chứng cứ thực tiễn từ văn bản và hồ sơ vụ án để bảo vệ nhận định.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh tiến trình lập pháp dân sự Việt Nam qua ba giai đoạn (1995, 2005, 2015) và so sánh đối chiếu với pháp luật Cộng hòa Pháp, Luật La Mã cổ đại.
  • Phương pháp bình luận bản án: Đánh giá việc vận dụng pháp luật thực định của Tòa án trong việc giải quyết vụ án tranh chấp lối đi thực tế.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, các công trình luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, tạp chí chuyên ngành (Tạp chí Nghề luật, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp) và bản án thực tế tại Tòa án cấp sơ thẩm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bất động sản và quyền về lối đi qua bất động sản liền kề

Chương 1 làm rõ các khái niệm cơ bản cấu thành nên chế định quyền về lối đi qua:

  • Bất động sản và bất động sản liền kề: Theo Điều 107 BLDS 2015, bất động sản là tài sản không thể di dời hoặc hạn chế di dời. Bất động sản liền kề trong khoa học pháp lý cần được hiểu theo nghĩa rộng (bất động sản xung quanh, có sự tiếp nối) chứ không giới hạn ở các thửa đất có chung ranh giới trực tiếp, nhằm giải quyết trường hợp bất động sản bị vây bọc nhiều lớp phải đi qua nhiều thửa đất để ra đường công cộng.
  • Bất động sản bị vây bọc: Là bất động sản bị giới hạn bởi các bất động sản xung quanh, không có hoặc không đủ lối đi kết nối trực tiếp với đường giao thông công cộng.
  • Khái niệm lối đi: Khác với "đường đi", "lối đi" là khoảng đất hẹp vừa đủ để đáp ứng nhu cầu đi lại thiết yếu nhất phục vụ khai thác công dụng tài sản.
  • Bản chất pháp lý của quyền về lối đi qua: Đây là một dạng vật quyền (quyền đối vật), gắn liền với hai bất động sản (bất động sản hưởng quyền và bất động sản chịu hưởng quyền) chứ không phụ thuộc vào tư cách cá nhân của chủ sở hữu; quyền không bị triệt tiêu khi thay đổi chủ sở hữu.

Ý nghĩa của việc ghi nhận quyền được tác giả phân tích trên ba phương diện:

  1. Bảo đảm cho chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc khả năng tiếp cận và khai thác giá trị tài sản.
  2. Bảo đảm lợi ích chung của xã hội, đặt ra giới hạn cần thiết đối với tính tuyệt đối của quyền sở hữu (áp đặt nghĩa vụ thụ động - servitudes in faciendo consistere non potest - chủ bất động sản chịu quyền không được ngăn cản chứ không bị buộc phải thực hiện hành vi tích cực cho bên hưởng quyền).
  3. Xác lập phạm vi quyền năng hạn chế, tránh việc bên hưởng quyền lạm quyền như một chủ sở hữu thực sự đối với phần đất lối đi.

Tiến trình phát triển lập pháp về lối đi qua trong pháp luật Việt Nam được hệ thống hóa qua bảng sau:

Tiêu chí BLDS năm 1995 (Điều 280) BLDS năm 2005 (Điều 275) BLDS năm 2015 (Điều 254)
Tên chế định Quyền sử dụng hạn chế BĐSLK (Quyền về lối đi qua BĐSLK) Quyền sử dụng hạn chế BĐSLK (Quyền về lối đi qua BĐSLK) Quyền đối với BĐSLK (Quyền về lối đi qua)
Điều kiện yêu cầu Chỉ quy định trường hợp "không có lối đi ra" Chỉ quy định trường hợp "không có lối đi ra" Mở rộng thành "không có hoặc không đủ lối đi ra"
Nguyên tắc mở lối đi Do các bên thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện, ít gây phiền hà Bổ sung nguyên tắc: thuận tiện, hợp lý nhất, thiệt hại ít nhất Kế thừa nguyên tắc thuận tiện, hợp lý, giảm thiểu tối đa thiệt hại
Trường hợp phân chia BĐS Phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong mà không có đền bù Kế thừa quy định dành lối đi không có đền bù Kế thừa tại Khoản 3: dành lối đi cần thiết mà không có đền bù

Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật hiện hành về quyền về lối đi qua bất động sản liền kề

Chương 2 phân tích chuyên sâu các quy phạm thực định của BLDS năm 2015:

1. Các căn cứ xác lập quyền (Điều 246, Điều 254):

  • Do địa thế tự nhiên: Tình trạng vây bọc tồn tại khách quan do vị trí tọa lạc, không phải do hành vi nhân tạo của chủ sở hữu tự ngăn chắn đường ra của mình.
  • Theo ý chí chủ thể:
    • Xác lập theo thỏa thuận (Khoản 2 Điều 3, Điều 246): Các bên tự nguyện thống nhất vị trí, kích thước, mức đền bù mà không bắt buộc phải rơi vào tình trạng bị vây bọc.
    • Xác lập theo di chúc (Điều 624): Người lập di chúc định đoạt để lại quyền về lối đi cho người thừa kế hoặc người thụ tặng nhằm tránh tranh chấp trong tương lai.
  • Theo quy định của pháp luật:
    • Khi bất động sản bị vây bọc không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng (Khoản 1 Điều 254).
    • Khi bất động sản bị phân chia thành nhiều phần cho các chủ thể khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho phần đất phía trong mà không đền bù (Khoản 3 Điều 254).
  • Xác lập do chuyển giao bất động sản (Điều 247): Quyền có hiệu lực đối kháng với mọi cá nhân, pháp nhân và tự động chuyển giao cùng bất động sản.

2. Nội dung và nguyên tắc thực hiện quyền:

  • Chủ thể thực hiện: Chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất hợp pháp.
  • Vấn đề đền bù: Đền bù theo Khoản 1 Điều 254 là khoản bù đắp tổn thất vật chất mang tính hệ quả của việc mở lối đi chứ không phải là điều kiện tiên quyết để được mở lối đi; việc đền bù không đồng nghĩa với chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
  • Thay đổi hiện trạng lối đi: Việc thay đổi (vị trí, diện tích mở rộng/thu hẹp, hoặc thay đổi tổng thể) phải dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên và bảo đảm nguyên tắc hợp lý, ít gây thiệt hại nhất cho bất động sản chịu quyền.

3. Chấm dứt quyền và hệ quả pháp lý (Điều 256):

  • Bốn căn cứ chấm dứt gồm: (i) Bất động sản hưởng quyền và chịu hưởng quyền sáp nhập thuộc sở hữu của một người; (ii) Không còn làm phát sinh nhu cầu hưởng quyền (từ bỏ quyền thông qua văn bản hoặc hành vi, hoặc do có quy hoạch mở đường công cộng mới); (iii) Theo thỏa thuận; (iv) Trường hợp khác do luật định.
  • Hệ quả pháp lý: Tác giả chỉ rõ BLDS năm 2015 chưa có điều khoản xử lý việc có hoàn lại tiền đền bù hay không khi chấm dứt quyền, cũng như quy chế phục hồi quyền khi hai thửa đất đã sáp nhập sau đó lại bị phân chia tách thửa.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về quyền về lối đi qua bất động sản liền kề

Chương 3 tập trung phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua nghiên cứu án điển hình và đưa ra giải pháp lập pháp:

  • Bình luận thực tiễn qua Bản án số 08/2022/DS-ST ngày 09/03/2022 của TAND huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp:
    • Tóm tắt vụ án: Các nguyên đơn (bà L, ông M, ông N, ông S) khởi kiện bị đơn (ông U) là anh chị em ruột, yêu cầu mở lối đi ngang 2m dài hết phần đất trồng lúa của ông U và không đồng ý trả tiền đền bù với lý do đất có nguồn gốc cha mẹ tặng cho. Hiện trạng trước đây có lối đi chung 1m, sau đó giảm còn 50cm.
    • Phán quyết của Tòa án: TAND huyện Châu Thành bác toàn bộ đơn khởi kiện của nguyên đơn. Tòa nhận định: phần đất của các nguyên đơn không rơi vào tình trạng bị vây bọc hoàn toàn vì trên thực tế vẫn có thể đi nhờ qua đất ông Cường, đi ra lối đi chung rộng 80cm phía sau hoặc tiếp giáp lộ đê bao rộng 4-5m. Yêu cầu mở lối đi 2m qua đất lúa của bị đơn là không cần thiết, gây thiệt hại lớn cho bị đơn.
    • Đánh giá của tác giả: Bản án thể hiện sự vận dụng đúng đắn nguyên tắc của Điều 254 BLDS năm 2015: lối đi chỉ được xác lập khi thực sự bị vây bọc và phải lựa chọn vị trí ít gây thiệt hại nhất; đồng thời khẳng định việc nguyên đơn từ chối đền bù là trái quy định pháp luật vì giữa các bên không hề có thỏa thuận miễn đền bù.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu và đóng góp khoa học cụ thể:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận: Làm rõ bản chất "vật quyền hạn chế" của quyền về lối đi qua trong hệ thống pháp luật Việt Nam, phân định ranh giới giữa quyền của chủ sở hữu tài sản và quyền năng phái sinh có giới hạn của chủ bất động sản hưởng quyền.
  • Chỉ ra các khoảng trống và điểm mờ pháp lý trong BLDS năm 2015:
    • Thiếu tiêu chí và định lượng cụ thể để xác định thế nào là "không đủ lối đi" khi chủ sở hữu thay đổi mục đích sử dụng đất hoặc phương thức giao thông.
    • Chưa dự liệu trường hợp bất động sản sau khi phân chia (Khoản 3 Điều 254) mà phần đất được chia không đủ điều kiện tự mở lối đi thì có được yêu cầu các bất động sản liền kề xung quanh mở lối đi hay không (so sánh với Điều 684 BLDS Pháp).
    • Chưa quy định cơ chế tài chính giải quyết việc hoàn trả hoặc khấu trừ tiền đền bù khi quyền về lối đi qua bị chấm dứt trước thời hạn (so sánh với quy định khấu trừ theo thời hạn 30 năm tại Điều 685 BLDS Pháp).
  • Hệ thống giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
    1. Ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết tiêu chí đánh giá "không đủ lối đi", kết hợp xem xét mục đích sử dụng đất hợp pháp, phương tiện đi lại thiết yếu và điều kiện địa lý thực tế.
    2. Bổ sung quy định cho phép chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc do phân chia được yêu cầu bất động sản liền kề khác mở lối đi trong trường hợp diện tích đất được phân chia không thể bố trí lối đi ra đường công cộng.
    3. Bổ sung quy phạm xác định hệ quả pháp lý khi chấm dứt quyền về lối đi qua, quy định rõ nguyên tắc hoàn trả một phần tiền đền bù tương ứng với thời gian chưa sử dụng nếu lối đi chấm dứt do nguyên nhân khách quan (như quy hoạch nhà nước).
    4. Quy định cụ thể thủ tục và điều kiện giải quyết yêu cầu thay đổi hiện trạng lối đi khi có sự biến động về nhu cầu sử dụng thực tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Đề tài tập trung chủ yếu vào các quy định thực định của BLDS năm 2015 và các khía cạnh dân sự truyền thống; dữ liệu thực tiễn xét xử mới chỉ dừng lại ở khảo sát bản án sơ thẩm điển hình, chưa bao quát được toàn bộ các dạng tranh chấp phức tạp tại cấp phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm trên phạm vi toàn quốc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế phối hợp giữa quy định của BLDS năm 2015 với Luật Đất đai năm 2024 về đăng ký biến động đất đai đối với quyền đối với bất động sản liền kề; nghiên cứu thủ tục hành chính về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi có lối đi qua và hoàn thiện cơ chế định giá bồi thường tài sản khi mở lối đi.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật: Cung cấp tư liệu học tập chuyên sâu cho học phần Luật Dân sự (phần Tài sản và Quyền sở hữu), Luật Đất đai và Kỹ năng giải quyết án dân sự.
  • Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư: Cung cấp góc nhìn tham khảo trong việc đánh giá chứng cứ, xác định tình trạng "bị vây bọc", "không đủ lối đi" và giải quyết tranh chấp quyền về lối đi qua, đặc biệt là phần phân tích Bản án số 08/2022/DS-ST.
  • Cơ quan lập pháp và nghiên cứu: Đóng góp các luận cứ khoa học và kinh nghiệm lập pháp so sánh để sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn thi hành BLDS và Luật Đất đai.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định của BLDS năm 2015, nghĩa vụ đền bù của chủ bất động sản hưởng quyền có phải là điều kiện tiên quyết để được mở lối đi không? Không. Theo phân tích tại Chương 1 và Chương 2 của khóa luận căn cứ Điều 254 BLDS năm 2015, đền bù chỉ là hệ quả pháp lý phát sinh từ việc mở lối đi nhằm hỗ trợ, bù đắp thiệt hại vật chất cho chủ bất động sản chịu hưởng quyền chứ không phải là điều kiện bắt buộc để xác lập quyền mở lối đi.

2. Trường hợp bất động sản bị phân chia thành nhiều phần thì việc mở lối đi được thực hiện như thế nào và có phải đền bù không? Theo Khoản 3 Điều 254 BLDS năm 2015, khi một bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo nguyên tắc thuận tiện, hợp lý nhất mà không phải đền bù.

3. Khi bất động sản hưởng quyền được chuyển nhượng cho chủ sở hữu mới thì quyền về lối đi qua có bị chấm dứt không? Không. Căn cứ Điều 247 BLDS năm 2015, quyền đối với bất động sản liền kề là vật quyền gắn liền với bất động sản, có hiệu lực đối kháng với mọi cá nhân, pháp nhân và tự động được chuyển giao cho chủ sở hữu mới khi bất động sản được chuyển giao.

4. Tại sao trong Bản án số 08/2022/DS-ST, TAND huyện Châu Thành lại bác yêu cầu mở lối đi của các nguyên đơn? Tòa án bác yêu cầu vì các nguyên đơn không chứng minh được tình trạng bị vây bọc hoàn toàn; trên thực tế các nguyên đơn vẫn có lối đi khác (đi nhờ qua đất ông Cường, ngõ chung 80cm và lối đi ra lộ đê bao rộng 4-5m). Do đó, yêu cầu mở lối đi 2m trên đất lúa của bị đơn là không cần thiết, không hợp lý và không bảo đảm nguyên tắc giảm thiểu thiệt hại theo Khoản 1 Điều 254 BLDS năm 2015.

5. BLDS năm 2015 đã có quy định cụ thể về việc hoàn lại tiền đền bù khi quyền về lối đi qua chấm dứt hay chưa? Chưa. Khóa luận chỉ rõ đây là một khoảng trống pháp lý của BLDS năm 2015. Hiện pháp luật Việt Nam chưa có điều khoản hướng dẫn cách thức hoàn trả hoặc khấu trừ tiền đền bù theo thời gian sử dụng như quy định thời hạn 30 năm tại Điều 685 BLDS Pháp.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Minh Ngọc đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ bản chất pháp lý của quyền về lối đi qua bất động sản liền kề theo quy định của BLDS năm 2015 dưới góc độ vật quyền hạn chế. Thông qua việc phân tích lý luận, đánh giá thực trạng quy định và bình luận thực tiễn xét xử vụ án dân sự cụ thể, công trình đã chỉ rõ những bất cập về tiêu chí xác định lối đi, nghĩa vụ đền bù và hệ quả chấm dứt quyền. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật được đề xuất có giá trị thực tiễn và khoa học rõ ràng, góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật dân sự đối với các quan hệ bất động sản liền kề tại Việt Nam.