Chương I. LÝ LUẬN CHUNG VE THỪA KE NHÀ Ở VÀ QUYÈN SỬ DỤNG ĐẤT Ở 1. Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế 1. Khái niệm thừa kế Thừa kế là một quan hệ xã hội, là việc chuyên dịch tài sản của người đã chết cho người còn sống theo di chúc hoặc theo qui định của pháp luật.
Thừa kế xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu và sự phát triển của xã hội loài người. Ngay từ thời sơ khai của xã hội loài người đã xuất hiện quan hệ sở hữu do đó thừa kế đã có mam mong và xuất hiện ngay trong thời kỳ này. Trong thời kỳ đầu của chế độ cộng sản nguyên thuỷ những điều kiện về kinh tế, xã hội và hôn nhân phụ thuộc vào địa vị chủ đạo của người phụ nữ trong thị tộc. Chế độ mẫu hệ với địa vị chủ đạo của người phụ nữ đã tạo ra tiền đề cho việc thừa kế tài sản của các con và những người thân thuộc của người mẹ.
Angghen viết: “ Theo chế độ mẫu quyên, nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên me và trật tự thừa kế lúc ban đầu trong thị tộc, thì chỉ những người cùng họ hàng trong thị tộc đã chết. Tài sản phải dé lại trong nội bộ thị tộc. Vì tài sản để lại không có gia tri gì cho lắm nên trong thực tiễn có lẽ là từ xưa người ta vẫn trao tài sản cho những người bà con thân thuộc nhất về phía người mẹ. Lúc đầu chúng thừa kế người mẹ cùng với những người cùng huyết tộc với mẹ chúng, về sau có thể chúng là người đầu tiên kế thừa mẹ chúng”.79] Như vậy vào thời kỳ nguyên thuỷ, việc thừa kế được hình thành theo tập quán của thị tộc.
Tài sản của thị tộc do người mẹ quản lý, khi người mẹ chết đi thì đi sản được chuyên cho những người thân thích trong thị tộc và tài sản của thị tộc được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Đây chính là hình thức thừa kế đầu tiên của xã hội loài người về tư liệu sản xuất nhằm tiếp tục duy trì cuộc sống chung cho thị tộc. 7 Sự phát triển của nền sản suất xã hội đã làm thay đôi địa vị của người phụ nữ. Sự ra đời của nhiều nghành nghề mới như nông nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt đòi hỏi sức khoẻ và trí tuệ của người đàn ông, sản phẩm lao động mà người đàn ông làm ra không những đủ nuôi sống gia đình mà còn tạo ra nhiều của cải dư thừa.
Dia vi của người dan ông trong gia đình và trong từng thị tộc, bộ lạc dan dan được thiết lập. Đặc biệt khi nhà nước ra đời va qui định chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã làm cho con cái biết rõ cha mẹ mình. Từ đó trong quan hệ gia đình xác lập huyết thống theo họ cha và chế độ gia đình phụ hệ thay thế cho chế độ mẫu hệ. Chế độ mẫu hệ đã dần mờ nhạt thay bằng chế độ phụ hệ với vai trò gia trưởng đặc trưng của người đàn ông.
Các con trong gia đình có huyết thống với người cha sẽ mang họ cha và được thừa kế tài sản của cha. “Thế là huyết thống theo họ mẹ và quyền thừa kế theo mẹ đã bị xoá bỏ, huyết tộc theo họ cha và thừa kế cha được xác lập”. Như vậy qua mỗi một thời kỳ, qua mỗi một giai đoạn phát triển của xã hội loài người tương ứng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, của hình thức gia đình thì việc điều chỉnh quan hệ sở hữu có thay đổi dẫn theo sự thay đổi của các quan hệ thừa kế đó là do các nguyên nhân về kinh tế, quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân trong xã hội quyết định. Như vậy ngay từ khi nhà nước và pháp luật chưa ra đời thì quan hệ sở hữu và thừa kế đã xuất hiện như một yếu tô khách quan.
Thừa kế xuất hiện phụ thuộc vào chế độ sở hữu. Nếu sở hữu là yếu tố đầu tiên dé xuất hiện quan hệ sở hữu thì thừa kế là phương tiện duy trì củng cô quan hệ sở hữu. Khi xã hội phân chia thành giai cấp và chế độ tư hữu được hình thành, giai cấp thống trị chiếm hữu hầu hết tư liệu sản xuất và truyền lại cho con cháu nên địa vi thống trị được củng cô từ đời này sang đời khác. Việc thừa kế tài sản là sự chuyền dịch công cụ, phương tiện bóc lột của giai cấp thống trị cho con cháu nhằm tiếp tục xác lập quyền lực về chính trị, kinh tế đối với những người lao động.
Như vậy qua các thời kỳ phát triển của xã hội loài người, quan hệ thừa kế có tính kế thừa các giá trị vật chất và tinh thần của gia đình và dòng tộc. Những 8 thành quả lao động của gia đình như nha ở và những của cải dé dành khác, đây là những thành quả lao động mà thế hệ trước dé lại cho thé hệ sau bởi nhà ở và các tài sản khác không những là tài sản có giá trị lớn, mà nó còn thê hiện giá trị văn hoá đã tồn tại và phát trién qua các thời kỳ lich sử. Ở Việt Nam, việc thừa kế di sản đã hình thành theo tập quán của từng dân tộc, từng vùng miền, thậm chí việc chia di sản thừa kế còn theo truyền thống của dòng tộc. Con cháu trong gia đình được hưởng di sản từ ông bà, cha mẹ và thực hiện nghĩa vụ thờ cúng tô tiên, việc thờ cúng tô tiên nhắc nhở con cháu nhớ công ơn của người đã chết.
Khải niệm quyền thừa kế Nếu thừa kế là một quan hệ xã hội phát sinh ngay cả trong một xã hội chưa phân chia thành giai cấp, chưa có nhà nước và pháp luật (thuộc về phạm trù kinh tế), thì quyền thừa kế chỉ có thé phát sinh trong một xã hội có nhà nước và pháp luật. Quyền thừa kế hàm chứa những yếu tố cấu thành một quan hệ pháp luật và có những đặc điểm pháp luật đặc thù. Chế định về quyền thừa kế không những qui định quyền tự định đoạt của của thé trong việc dé lại di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật và quyền của người được thừa kế di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật có quyền hưởng hoặc từ chối quyền hưởng di sản theo những điều kiện do pháp luật qui định. Hình thức dịch chuyên tài sản của người chết cho những người thừa kế theo di chúc hoặc theo qui định của pháp luật chính là cơ sở để xác lập quyền sở hữu đối với tài sản của người thừa kế hợp pháp.
Như vậy giữa quyền sở hữu đối với tài sản và quyền thừa kế có mỗi quan hệ qua lại với nhau, nếu quyền thừa kế là một trong những căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với tài sản của người thừa kế hợp pháp, thì quyền sở hữu lại chi phối trực tiếp đến quyền thừa kế. Quyền thừa kế được hiểu dưới hai nghĩa: Thứ nhất, quyền thừa kế theo theo nghĩa rộng (nghĩa khách quan) là tổng hợp các qui phạm pháp luật qui định về trình tự, hình thức để lại đi sản và hưởng di sản thừa kế; người thừa kế có quyền nhận hay không nhận di sản; có quyền kiện hay không kiện yêu cầu chia di sản trong thời hạn pháp luật qui định. Theo 9 qui định tại Điều 631 Bộ luật dân sự 2005: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; dé lai tài san cua minh cho những người thừa ké theo pháp luật; hưởng di san theo di chúc hoặc theo pháp luật”. Thứ hai, quyền thừa kế hiểu theo nghĩa chủ quan: Là quyền dân sự cụ thé của mỗi cá nhân trong việc để lại di sản cho người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật; quyền nhận di sản hay từ chối quyền hưởng di sản; quyền kiện hay không kiện dé yêu cầu tòa án bảo vệ quyền thừa kế của mình.
Tóm lại, quyền thừa kế chỉ có thê được thực hiện khi người có di sản chết, những người thừa kế theo luật hoặc theo di chúc của người dé lại di sản thể hiện ý chí nhận di sản của người đã chết. Người thừa kế nhà ở và quyền sử dụng đất ở a) Người thừa kế theo di chúc: Là người được xác định do ý chí của của người có di sản nên phạm vi những người được hưởng di sản theo di chúc rộng hơn rất nhiều so với người được hưởng di sản theo pháp luật. Người thừa kế theo di chúc có thê là cá nhân bất kỳ, nếu được chỉ định trong di chúc mà không cần xét đến những quan hệ khác của họ đối với người dé lại di sản. Người thừa kế theo di chúc có thé là người thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người dé lại di sản hoặc không thuộc diện thừa kế theo luật của người dé lại di sản, pháp luật không qui định phạm vi những người được hưởng thừa kế theo di chúc.
Việc được hưởng di sản của người chết theo di chúc hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của người lập di chúc trong việc định đoạt tài sản của họ dé lại cho những người thừa kế. Phần di sản mà mỗi một người thừa kế được hưởng theo di chúc được hưởng có thể bang nhau, nhiều hơn hoặc ít hơn nhau, điều này tuỳ thuộc vào việc phân định di sản của người lập di chúc định đoạt. Người được chỉ định thừa kế theo di chúc có thé là người được hưởng toàn bộ khối di sản của người chết để lại nếu không có sự hạn chế liên quan đến người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo qui định tại Điều 669 BLDS 2005, bao gồm cha mẹ, VỢ chồng, con chưa thành niên và con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động của người dé lại di sản. Day là những người thừa kế không thé bị 10 người để lại di sản truất quyền hưởng di sản hoặc chỉ cho họ hưởng phần di sản ít hơn 2/3 của một suất theo luật, trừ trường hợp họ từ chối nhận di sản tại điều 642 hoặc họ là người không có quyền hưởng di sản theo qui định tại khoản 1 điều 643 BLDS 2005, thì những người đó vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu đi sản của người chết được chia theo qui định của pháp luật.