Chương 1 NHỮNG VAN DE CHUNG VE THỦ TỤC GIẢI QUYET VU ÁN CHIA THỪA KE TÀI SAN TAI TOA ÁN CAP HUYỆN 1. Khái niệm thủ tục giải quyết vu án chia thừa kế tài sản tại Tòa án cấp huyện Theo Điều | Luật tổ chức Tòa án nhân dân, các Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiệm vụ xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhà và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật để bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do danh dự và nhân phâm của công dân. Do vậy khi có quyền lợi ích hợp pháp bị xâm phạm thì cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác theo thủ tục đo pháp luật quy định có quyền yêu cầu Tòa án bảo ˆ vệ. Trong lĩnh vực dân sự, khi các tranh chấp dân sự xảy ra, đương sự khởi kiện và được Tòa án thụ lý giải quyết thì được gọi là vụ án dân sự.
Theo đó, những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động, được quy định tại các Điều 25, Điều 27, Điều 29 và Điều 31 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) do cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện mà được Tòa án thụ lý giải quyết và được Tòa án thụ lý, giải quyết được gọi là vụ án dân sự. Trong đó, các tranh chấp vẻ thừa kế tài sản (khoản 5 Điều 25 BLTTDS) được Tòa án thụ lý giải quyết được gọi là vụ án về thừa kế tài sản. Tranh chấp về thừa kế tài sản có hai loại: Tranh chấp về quyền thừa kế và tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại. Tranh chấp về quyên thừa kê quyên bao gôm: Yêu câu chia di sản thừa kê, quyên yêu câu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc quyên yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác.
Trong đó, tranh chap về chia thừa kê tài sản là mâu thuẫn, bất đông ý kiến về quyên hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc pháp luật giữa những người thừa kế. Thông thường trong các tranh chấp này, người thừa kế không thống nhất được phương án phân chia tài sản băng tiền hoặc hiện vật nên đã yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, vụ án chia thừa kế tài sản là một dạng của các vụ án tranh chấp thừa kê tài sản. Hiện nay, hệ thống tổ chức Tòa án nhân dân của nước ta được tổ chức theo các đơn vị hành chính lãnh thổ bao gồm: Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân tối cao, theo đó Tòa án nhân dân cấp huyện chỉ có thẩm quyên xét xử sơ thầm những tranh chấp dân sự theo Điều 33 BLTTDSỶ, trong đó có tranh chấp chia thừa kế tài sản.
Những tranh chấp chia thừa kế tài sản thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp huyện là những tranh chấp mà không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc không cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài hay không thuộc trường hợp Toà án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để giải quyết theo thủ tục sơ thâm những vụ việc dân sự thuộc thầm quyên giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 33 của BLTTDS. Khi giải quyết vụ án chia thừa kế tài sản, Tòa án sẽ áp dụng cả các quy định của pháp luật dân sự và pháp luật tố tụng dân sự. Áp dụng pháp luật dân sự (pháp luật nội dung) để giải quyết nội dung tranh chấp (cách thức phân chia tài sản). Còn thủ tục giải quyết vụ án chia thừa kế tài sản được thực hiện theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
` Nghị quyết số 02 ngày 10/8/2004 ; ; * Xem Điều 20, Điều 24, Điều 28, Điều 30 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 và Điều 242 Bộ luật Tô tụng dân sự. BLTTDS bao gồm 418 điều và được cơ cấu thành 9 phan, trong đó bao gồm cả những quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự và thủ tục giải quyết vụ án dân sự. Thủ tục giải quyết vụ án dân sự nói chung và vụ án chia tài sản thừa kế nói riêng được thực hiện theo các quy định từ điều 161 đến điều 310 BLTTDS. Còn những vấn đề chung về thủ tục giải quyết vụ án dân sự nói chung và vụ án chia tài sản thừa kế nói riêng được quy định tại Phần thứ nhất của BLTTDS (điều 1- 160) bao gồm những quy định về nguyên tắc, thâm quyền của Toà án nhân dân, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, chứng minh và chứng cứ, biện pháp khẩn cấp tạm thời, cấp, thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng, thời hạn tố tụng, thời hiệu khởi kiện, án phí.
Các quy định này quy định về nguyên tắc, trình tự thủ tục giải quyết vụ án chia thừa kế tài sản, quyền và nghĩa vụ của những người tiến hành tố tung và tham gia tố tụng khi giải quyết vụ án chia thừa kế tài sản. Theo từ điển Tiếng Việt “thi tục” là "những việc cụ thé phải làm theo một trật tư quy định, đề tiễn hành một công việc có tính chất chính thức '”. Như Vậy, thủ tục giải quyết vụ án chia thừa kế tài sản tại Tòa án cấp huyện là trình tự để Tòa án cắp huyện thực hiện việc phân chia di sản thừa kế tài sản theo thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự, bao gôm các thủ tục xem xét điều kiện thụ lý, thụ lý, chuẩn bị xét xử sơ thâm, xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên, không phải bat ky vụ án chia tài sản thừa kế nào cũng phải trải qua tat cả các giai đoạn tổ tụng trên.
Tùy theo quyền tự định đoạt của đương sự hoặc các căn cứ phát sinh trong quá trình tố tụng mà việc giải quyết vụ án chia tài sản thừa kế tại Tòa án cấp huyện có thể kết thúc ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm hoặc phiên tòa sơ thâm. Đặc trưng của thủ tục giải quyết vụ án chia thừa kế tài sản tại Tòa án cap huyện 1. Đặc trưng vé thu lý vụ an chia thừa kế tài san * Viện ngôn ngữ học, từ điển Tiếng Việt - Hoàng Phê chủ biên, NXB Đà Nẵng, trung tâm từ điển học; tr 930 Và nguyên tắc, việc xem xét điều kiện thụ lý vụ án chia thừa kế tài sản tại Tòa án cấp huyện phải tuân thủ các điều kiện thụ lý giống như đối với các vụ án dân sự nói chung như điều kiện về: Người khởi kiện, thâm quyền, sự việc chưa được Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thâm quyền giải quyết bằng một bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, thủ tục tiền tố tụng, điều kiện về hình thức khởi kiện và tạm ứng án phí. Song, trong mỗi điều kiện đó, đối với vụ án chia thừa kế tài sản lại có đặc thù riêng.
- Về người có quyên khởi kiện Cũng như những người khởi kiện các vụ án dân sự khác, người khởi kiện vụ án chia thừa kế tài sản cũng phải là người có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc tranh chấp và có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Song, do vụ án chia thừa kế tài sản có thể là chia thừa kế theo đi chúc hoặc theo pháp luật nên những người khởi kiện với người để lại di sản và với người bị kiện thường là những người có quan hệ huyết thống, quan hệ vợ chồng hoặc quan hệ nuôi dưỡng với nhau. Trong vụ án chia thừa kế tài sản thường có nhiều đương sự thậm chí hàng trăm đương sự nên thông thường những người khởi kiện sẽ ủy quyền cho một trong số nguyên đơn tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện ủy quyên. Tuy nhiên, VIỆC uy quyền này chỉ được Tòa án chấp nhận sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án.
- Về thẩm quyền Khác với việc tiếp nhận đơn khởi kiện vụ án dân sự khác, ngay sau khi nhận hồ sơ vụ án tiếp nhận đơn khởi kiện vụ án tranh chấp thừa kế tài sản, Thẩm phán cần chú ý phân biệt thầm quyền của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự, thâm quyền của Tòa án cấp huyện và Tòa án cấp tỉnh, thâm quyền theo lãnh thổ. Đối với tranh chấp chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất thì bản chất của dạng tranh chấp này là tranh chấp thừa kế có đối tượng là quyền sử dụng đất và Tòa án phải xác định ranh giới đất để phân chia, do đó Tòa án chỉ có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi đất đã có giấy chứng 10 nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 1987 hoặc Luật Đất đai năm 1993 hoặc Luật Đất đai năm 2003 hoặc giấy tờ được quy định tại các khoản 1, 2 va 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003. Nếu các đương sự không tranh chấp, chỉ yêu cầu công nhận việc phân chia di sản hoặc có tranh chấp nhưng đất chưa có một trong các loại giấy tờ nêu trên thi không thuộc thâm quyên giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự mà thuộc thẩm quyền của Văn phòng công chứng hoặc UBND có thẩm quyền. Theo Điều 136 Luật đất đai và Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03/01/2002, của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và Tổng cục địa chính, trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có một trong các loại giấy tờ như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 1987 hoặc Luật Đất đai năm 1993 hoặc Luật Dat dai năm 2003 hoặc giấy tờ được quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 được hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 và tiểu mục 1.