CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VAN DE LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIEN HANH VE GIẢI QUYẾT TRANH CHAP VE NHÀ Ở VA QUYEN SỬ DỤNG DAT KHI VO, CHONG LY HON 1: Khái niệm về nhà ở và quyền sử dụng đất. LLL Khải niệm về nhà ở Nha ở luôn là nhu cầu thiết yêu trong xế hội, gin với sư hình thành va phat triển của loài người tử xưa đến nay. Nếu như thời nguyên thủy, “nba ở" có thể được xem như một hang đông, một hồc cây, hoắc bắt kỉ nơi trú én nào tránh mưa nắng, thủ dữ, nghĩ ngơi thì ngày nay, khái niệm nha ở không chỉ đơn thuần như vay.
Nhà ở hiện nay thường lả công trình say dựng kiến cổ do con người làm nên chứ không phải la những tạo vat có sẵn từ thiên nhiên. Bên canh đó những chức năng cơ bản đã để cập, nha 6 còn là không gian dé sinh hoạt, giải tri va thực hiện các hoạt động khác. Theo tử điển Tiếng Việt, “nha” được hiểu trong nghĩa nhà ở là danh từ chi công trình xây dựng có mái, có tường vách được sử dụng làm chỗ , thường cùng với gia đỉnh" “Xã hội ngày cảng phát triển, pháp luật ra đời như một công cụ để quản. lý mọi mặt của xã hội, trong đó có nhà ở.
Khái niệm nhà ở được quy định cụ thể tai khoản 1 Điều 3 Luật Nhà ỡ năm 2014: “Nà ở là công trinh vậy đựng với mic dich dé ở và plue vụ các nằm cầu sinh hoạt của hộ gia đình cá nhân”. Bé hiểu được khái niệm trên, ta cẩn lâm rõ các khải niệm "ông trình. xây dưng”; "hộ gia đính”, "cả nhân”. - Đối với khái niệm "cổng trình xây dựng", khoản 10 Điều 3 Luật Xây dựng năm 2014 quy dink: “Công trinh xây dưng là sẵn phẩm được tao thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây đựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên lắt dinh vi với đất, cô tỉ ›ao gồm phẩn đưới mặt đất, phân trên mặt đất, phân cưới mặt nước và phẫn trên mặt nước, được xây đưng theo ‘Vin Ngôn ngĩhọc (2019), dn Tầng Fite Nhà mắt bin Hằng Đức, Bà Nội thiết kế.
Công trình xây dung bao gôm công trình dân dung, công trinh cong nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trùnh ha ting Äỹ thật và công trùnh Ride - Các khái niêm "hộ gia đính”, "cả nhân” không được pháp luật quy định rõ rằng nhưng có thể hiểu hô gia đính là tập hợp nhóm người có quan hệ hôn nhân, huyết thông và nuôi dưỡng còn cá nhân là một con người cụ thé Nour vay, theo quy định của pháp luật hiện hảnh, nhà ở là một loại công trình dân dụng, là sin phẩm được tạo thành bối sức lao động cũa con ngườ vật liêu xây dựng, thiết bi lấp đất vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gém phén dưới mat đất, phan trên mặt đắt, phén đưới mặt nước va phân trên mat nước, được xây dựng theo thiết kế, được xây dựng theo thiết kế, được một tập hợp người có quan hệ hôn nhân, huyết thông, nuôi dưỡng hoặc một con người cu thé sử dung vào mục dich để ở vả phục vụ các nhu cầu. Tir khái niệm nhà ở được quy định trong luật nêu trên, có thé rút ra các đặc điểm của nha ở như sau: - Thử nhất, nhà ở thường là những công trình kiên có được liên kết định vi với đất và khó di dời, có tinh bên vững, lâu dai - Thứ hai, mục đích của nha ở là để ở và phục vụ cho nhu cẩu sinh hoat của hộ gia đình, cá nhân. Đây là dầu hiệu để phân biết nhà ở với các cing trình xây dựng khác như trụ sở cơ quan (công trình phục vụ sinh hoat cho một tổ chức, đơn vị va không có mục dich dé 6) hoặc chuồng thủ (công trình xây, dung được sử dung vảo mục dich để ở, phục vu sinh hoạt nhưng không phải cho hô gia đình, cá nhân ma cho động vat). - Thứ ba, do hai đặc điểm nêu trên nên nhà ở thường là tải sản có giá trị lớn.
‘Theo quan điểm của tác giã, khái niệm “nha ở" được Luật Nha ở quy. định chưa thất sự đẩy đủ và hop lý bởi những trên thực té, ngoài hộ gia đình ‘va cá nhân vẫn tôn tại những chủ thé khác sử dung nha nhằm mục đích để ở và phục cho sinh hoạt, ví dụ như một nhóm người không có quan hệ hôn nhân, huyết thông, muối đưỡng (ban bẻ, cặp đối đồng tính sống chung như vợ chẳng. Hơn nữa, theo quy đính tại BLDS năm 2015, hộ gia đình hiện nay không được coi là một chủ thể độc lập trong các quan hệ dân sự. Vì vậy, nha ở không nên bi bó hẹp về chủ thể sử dung là hô gia đính và cá nhân ma nên được định nghĩa la công trình xây dựng công trình xây dựng với muc đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của cá nhân hoặc một nhóm người.
Khái niệm quyên sử dụng đất Đất trong thuật ngữ chung là các vật chất nằm trên bể mặt Trai Bat, có khả năng hỗ trợ sự sinh trưởng cũathực vậtvả phục vụ như lả môi trường sinh sống của các dang sự sống động vật. Theo từ điển tiếng Việt, đất Ja chất rắn lâm thảnh lớp trên cùng của bê mặt Trái Dat. Đất duéi góc hin của Luật Bat đai được hiểu theo ngiĩa rộng bao gồm tất cả các loại đất như. nhóm đất phi nông nghiệp, nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất chưa sử dụng Quyền sử dung là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tải sản”.
Quyển sử dụng cùng với quyển chiếm hữu và quyển định đoạt tao xiên quyền sở hữu của một chủ thể. Theo Giáo trình Luật Bat dai năm 2014 của Trường Đại hoc Luật Ha Nội, QSDĐ được hiểu là quyển khai thác các thuộc tỉnh có ích của dat đai dé 'phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Theo quan điểm của tác giả, khải niệm trên chưa khái quát hết đây đủ nội ham của "quyển sử dung đất” bởi lẽ không phải mục tiêu phát triển kinh xã hội là mục tiêu duy nhất khi một chủ thể khai thác công dụng của dat `Ngôn ngỡ học (2019), Me adn Tng Vi Nhĩ mắt băn Hồng Bi, Ha Nội ia 169 BLDSmãm 2012 dai. Bén cạnh mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đất đai còn được sử dụng vào mục đích quốc phòng - an ninh, mục đích tôn giáo, muc đích ở và các mục đích khác.
Những mục dich sử dung đất này được quy đính cu thé trong Luật Bat dai tương ứng với từng nhóm đất Khai niêm "quyền sử dụng đất” nên được hiểu là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ dat dé phục vụ cho một mục dich cu thể. Khai niệm "quyền sử dụng đất” được sử dụng chính thức lần đâu tiên tai Luật Dat đai năm 1987 để chỉ những quyên năng cia cá nhân, hô gia đỉnh, tổ chức đối với đất đai. Trước đó, trong hệ thông pháp luật Việt Nam, khái niêm “quyên sử dụng dat” chưa được sử dung thay vao đó là khái niêm. “quyền sở hữu".
Cu thể, chi có một chế độ sở hữu duy nhất đối với đất đai ở nước ta đã được xác lập, đó là chế độ công hữu đưới tên gơi ” hữu toàn dân”. Kế từ Luật Bat đai năm 1987, tải qua nhiều lẫn thay thé Hiển pháp va Luật Dat đai, chế độ sỡ hữu toan dân vé dat đai tiếp tục được duy trì và khái niém “quyền sử dụng dat” vẫn được sử dung. Nour vay, có thể xem “quyển sử dụng đất” là một sự sáng tạo pháp lý nhằm thực biện sỡ hữu toàn dân về đất dai ở nước ta cũng như là một công cu pháp lý để giúp Nha nước thực hiện được quyền năng của mình. Khái quát về giải quyết tranh chấp về nhà ở và quyền sử dụng đất.
khi vợ, chẳng ly hôn. Khái niệm về giải quyét tranh chấp về nhà ở và quyên sứdung dat khi vo, chông ÿ hôn 12211 Khái niêm iy hôn Quan hệ hôn nhân được dựa trên sự thương yêu, gắn bó giữa hai người nhưng trong cuôc sông, không phải lúc nào tinh cảm vợ chồng cũng có thé kéo dai, bên lâu Và khi đã không con tinh cảm, sẵn sảng tha thứ, độ lượng. 10 ‘voi nhau thi những mâu thuẫn tat yếu sẽ nay sinh. Những mâu thuẫn nay theo thời gian ngày cảng trở nên gay git đến độ các bên sẽ không thể chung sống với nhau được nữa.
Nha nước không thể, không được phép bằng ÿ chí của minh để kéo dai đời sống hôn nhân một khi nó đã không còn có thể cứu vấn. Va để giải phóng cho các cặp vợ chồng ở trong tỉnh trang nay, vẫn để ly hồn. được đặt ra Theo quan điểm của chủ nghĩa Mac - Lénin, hôn nhân nói chung, ly "hôn nói riêng là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp, la sự giãi phóng cho vợ chẳng khi bản chất cuộc hôn nhân không tôn tai trên thực tế va Nha nước cho phép họ ly hôn. Và theo Phridorich Angghen, “nêu tinh yêu đã hoàn toan phai nhạt hoặc bị một tình yêu say đấm mới at di, thi ly hôn sẽ là điều hay cho cả đôi bên cũng như cho xã hội".
Khai niềm ly hôn được quy định tại khoăn 14 Điển 3 Luật HN&GD năm 2014 như sau. “Ly hồn là việc chon chit quan hệ hôn nhân ngạp trong lúc ca vợ và chông đều còn sống theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Téa đa”. Đây là tiện pháp cuỗi cùng ma luật cho phép thực hiện trong trường hợp cuộc sống vợ chủng lâm vào tình trang khủng hoang ma không thé được khắc phục bằng bat kỳ biện pháp nào khác. Trên thể giới, vẫn để ly hôn được mỗi quốc gia xem xét, quy đính tùy và hoàn cảnh kinh tế - xã hội, chính trị, tôn giáo của quốc gia đó nhưng chủ.
yêu được chia làm ba hình thái sau: - Thứ nhất, cắm ly hôn. Ly hôn không được cho phép trong hệ thing pháp luật của nhiễu nước theo Đạo Thiên Cinta bởi hôn nhân được xem lả một kết ước giữa một người nam và một người nữ để chung tay gắn kết xây dựng cuộc sống, lả mối dây liên kết giữa hai người ma Thiên Chia đã tao nên. ˆ Mắc và th Angaben, Toàn idp, Nhì suất bên Chih wi uc gi, Hi Nội, 1095, rng 138 " ‘va không thé bị phân ly. Không ít nước Châu Âu chỉ mới từ bé quan niệm.
nay cách nay không lâu: ở Ý tử năm 1975, 6 Tây Ban Nha từ năm 1982 - Thứ hai, tự do ly hôn.