Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân. Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân. Chương 3: Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN 1.
KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN 1. Khái niệm quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân * Khái niệm thời kỳ hôn nhân Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì: Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân. Thời kỳ hôn nhân bắt đầu từ khi vợ chồng kết hôn và kết thúc khi hôn nhân chấm dứt do vợ chồng ly hôn; do vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết. Trong trường hợp vợ chồng ly hôn hoặc vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bán án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Việc xác định thời kỳ hôn nhân trong trường hợp đặc biệt: Nam nữ sống chung như vợ chồng thì theo Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 và thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP quy định như sau: Quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987 sau đó mới đăng ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ được công nhận đã xác lập kể từ ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng mà không phải từ ngày đăng ký kết hôn. Nam nữ chung sống như vợ chồng từ ngày 3/1/1987 đến ngày 1/1/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm kể từ ngày Luật Hôn nhân 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và gia đình năm 2000 có hiệu lực cho đến ngày 1/1/2003. Trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn để giải quyết. Từ sau ngày 1/1/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.
Từ sau ngày 1/1/2003 họ mới đăng ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ được xác lập kể từ ngày họ đăng ký kết hôn. Việc xác định thời kỳ hôn nhân có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, đặc biệt là trong quan hệ tài sản. Xác định đúng thời kỳ hôn nhân là một trong những cơ sở đảm bảo xác định chính xác quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng từ đó đảm bảo quyền bình đẳng và quyền lợi chính đáng cho cả hai bên vợ chồng. * Khái niệm quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Gia đình Việt Nam từ ngàn xưa vẫn được coi là nền tảng của xã hội, trong các bộ luật đầu tiên của nước ta như Bộ luật Hồng Đức đời nhà Lê, Bộ luật Gia Long đời nhà Nguyễn đã có nhiều điều khoản qui định về các quan hệ trong gia đình, quan hệ giữa vợ chồng với nhau, quan hệ giữa cha mẹ và con cái.
Trong gia đình, quan hệ vợ chồng là quan hệ nền tảng ảnh hưởng tới mọi mối quan hệ khác của gia đình. Quan hệ vợ chồng được phát sinh từ một sự kiện pháp lý đặc biệt đó là kết hôn và được xây dựng từ hai yếu tố tình cảm và vật chất. Tình cảm là điều kiện cần cho một cuộc hôn nhân bắt đầu và vật chất là điều kiện đủ để duy trì cuộc sống hôn nhân hạnh phúc. Vật chất ở đây được hiểu một cách đơn giản là tài sản của vợ chồng, đó có thể là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ, chồng.
Nếu như tình cảm là một yếu tố khó kiểm soát thì ngược lại vấn đề tài sản, đặc biệt là các quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng lại được nhà nước điều chỉnh một cách cụ thể bằng các quy định của pháp luật. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân xuất phát từ mục đích đảm bảo sự tồn tại và phát triển của gia đình. Bởi bên cạnh tình cảm là yếu tố có từ trước hôn nhân thì việc phát sinh và thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ và chồng là hệ quả tất yếu sau hôn nhân. Các quyền và nghĩa vụ tài sản này là cơ sở kinh tế bảo đảm cho gia đình thực hiện tốt các chức năng xã hội.
Ngoài ra các quyền và nghĩa vụ đó còn nhằm đáp ứng những nhu cầu vật chất của vợ chồng, bảo đảm cho vợ chồng thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ về nhân thân với nhau và thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ đối với con cái cũng như các thành viên khác trong gia đình. Thông qua các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân mà vợ, chồng biết được các quyền cũng như trách nhiệm của mình đối với gia đình và xã hội, từ đó có các xử sự phù hợp để đảm bảo cho những lợi ích chung của gia đình cũng như của cá nhân mình. Từ những phân tích trên có thể hiểu khái niệm quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo nghĩa khách quan và chủ quan như sau: Theo nghĩa khách quan: Quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là khả năng vợ, chồng có quyền và có nghĩa vụ liên quan đến tài sản của vợ chồng phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nhằm đảm bảo cho vợ chồng thực hiện được các chức năng của gia đình trong thời kỳ hôn nhân. Theo nghĩa chủ quan: Quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là những quyền và nghĩa vụ mà vợ chồng được pháp luật cho phép thực hiện bằng hành vi của mình trong thời kỳ hôn nhân liên quan đến những lợi ích về tài sản nhằm đảm bảo sự tồn tại, phát triển của gia đình trong đời sống xã hội cũng như đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng về tài sản của vợ chồng và quyền, lợi ích về tài sản của người khác có giao dịch với vợ 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Đặc điểm quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân Quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đóng một vai trò quan trọng trong đời sống gia đình, nó có những nét đặc trưng riêng khác với quyền nhân thân của vợ chồng. - Quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân gắn liền với quan hệ vợ chồng, chỉ những quan hệ được pháp luật công nhận là quan hệ vợ chồng mới có các quyền và nghĩa vụ này. Quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng giữa nam và nữ mà không đăng ký kết hôn không tồn tại quan hệ này, giữa họ chỉ phát sinh quan hệ tài sản trong dân sự. - Quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng là những quyền liên quan đến lợi ích về tài sản.
Khác với quyền và nghĩa vụ về nhân thân của vợ chồng là những quyền liên quan đến lợi ích tinh thần, tình cảm không mang nội dung kinh tế và cũng không phụ thuộc vào yếu tố tài sản, quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân luôn gắn với các lợi ích về tài sản. Đó là các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng. - Quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chỉ phát sinh khi quan hệ hôn nhân được xác lập và chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân. Quyền và nghĩa vụ tài sản này sẽ chấm dứt khi vợ chồng ly hôn hoặc do vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết.
Như vậy có thể thấy sự kiện phát sinh và chấm dứt quan hệ hôn nhân là căn cứ phát sinh cũng như chấm dứt quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng. - Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải xuất phát từ lợi ích chung của gia đình. Bởi tính chất cộng 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đồng của quan hệ hôn nhân, tài sản chung của vợ chồng được sử dụng nhằm đảm bảo cho các nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng. Nếu tài sản chung của vợ chồng không đủ chi dùng thì vợ chồng nếu có tài sản riêng phải có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng để đảm bảo cho các nhu cầu thiết yếu của gia đình.
Đối với các giao dịch do một bên vợ hoặc chồng thực hiện với người khác nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình thì phát sinh trách nhiệm liên đới của cả vợ và chồng đối với giao dịch đó. Đặc điểm này xuất phát từ mục đích đảm bảo sự tồn tại và phát triển của gia đình, gia đình phát triển bền vững, hạnh phúc là cơ sở để đảm bảo an sinh xã hội. - Về nguyên tắc quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng là do pháp luật quy định do vậy vợ chồng không thể thỏa thuận thay đổi được trừ trường hợp được pháp luật quy định. Khác với quan hệ tài sản trong dân sự, các bên có thể tự do thỏa thuận các quyền và nghĩa vụ của mình một cách linh hoạt miễn sao nó không trái với các quy định của pháp luật, còn trong quan hệ hôn nhân và gia đình quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng luôn bị chi phối trước tiên bởi lợi ích chung của gia đình, của các con.
Do vậy các quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng không chỉ liên quan đến bản thân vợ, chồng mà còn liên quan đến gia đình, đến các con nên vợ chồng không thể tự ý thỏa thuận thay đổi nếu pháp luật không có quy định.