Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA VỢ CHỒNG SAU KHI CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN 1. Khái niệm chung về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật HN&GĐ của các nƣớc nói chung và Việt Nam nói riêng là một vấn đề phức tạp trên cả phƣơng diện lý luận và thực tiễn. Bởi lẽ, nó phải đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích của gia đình với lợi ích của cá nhân vợ, chồng cũng nhƣ với lợi ích chung của xã hội.
Mặt khác, chế độ tài sản của vợ chồng còn phản ánh điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, truyền thống, phong tục tập quán, tâm lý, nguyện vọng của ngƣời dân. Ở Việt Nam, qua mỗi giai đoạn phát triển, chế độ tài sản của vợ chồng đều thể hiện những nét đặc thù riêng. Trên cơ sở nền kinh tế thị trƣờng, sự phát triển của xã hội và gia đình; kế thừa và phát triển hệ thống pháp luật HN&GĐ ở nƣớc ta, Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm chế độ tài sản chung và chế độ tài sản riêng. Nhƣ là một tất yếu của cuộc sống chung, sau khi kết hôn, đòi hỏi vợ và chồng phải cùng chung công sức, chung ý chí, tình cảm để tạo lập, phát triển kinh tế, vun đắp hạnh phúc gia đình.
Do đó, tài sản chung hay tài sản riêng của vợ, chồng đều cần phải đƣợc khai thác nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của gia đình. Trong điều kiện kinh tế thị trƣờng hiện nay cùng với việc mở rộng hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế, việc duy trì và phát triển đời sống gia đình đã thúc đẩy vợ chồng tham gia rộng rãi vào các giao dịch dân sự, kinh tế, thƣơng mại, đã làm phát sinh nhiều nghĩa vụ về tài sản mà vợ, chồng phải gánh vác. Theo đó, nhu cầu có tài sản riêng để đảm bảo cho việc thực hiện những nghĩa 8 vụ riêng về tài sản một cách độc lập, tạo khả năng chủ động khi tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, tái đầu tƣ do một bên thực hiện không bị phụ thuộc hoặc gây ảnh hƣởng đến lợi ích chung của gia đình là rất cần thiết. Quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là một giải pháp phát huy đƣợc hiệu quả cho vấn đề này.
Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân lần đầu tiên đƣợc ghi nhận trong Luật HN&GĐ năm 1986. Trƣớc đó, do phong tục, tập quán cũng nhƣ tƣ duy của gia đình Việt "của chồng công vợ", sự phân chia rạch ròi tài sản trong thời kỳ hôn nhân là không hề có. Trong Luật HN&GĐ năm 1959, vấn đề này cũng không đƣợc đề cập tới bởi Nhà nƣớc ta quy định chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản, toàn bộ tài sản do vợ chồng có trƣớc khi kết hôn hoặc đƣợc tạo ra, có đƣợc trong thời kỳ hôn nhân không phân biệt nguồn gốc tài sản, công sức đóng góp, đều thuộc tài sản chung của vợ chồng. Trên cơ sở đó, Luật HN&GĐ năm 1959 chỉ dự liệu hai trƣờng hợp chia tài sản chung của vợ chồng là khi vợ hoặc chồng chết trƣớc hoặc khi vợ chồng ly hôn.
Luật HN&GĐ năm 1986 ra đời vào thời kỳ đầu của sự nghiệp đổi mới với nhiều quy định khác về căn bản so với Luật HN&GĐ năm 1959 để phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội. Theo đó, chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ cộng đồng tạo sản, vợ chồng có tài sản chung và có quyền có tài sản riêng và đặc biệt còn ghi nhận việc chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại nếu có lý do chính đáng. Xuất phát từ thực tiễn đời sống xã hội, trên cơ sở kế thừa Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 tiếp tục quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tại Điều 29 và Điều 30. Nhƣ đã phân tích, nhu cầu của vợ, chồng có tài sản để đầu tƣ kinh doanh riêng hoặc để thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng là rất cần thiết.
Tuy nhiên, trong cuộc sống chung, không phải lúc nào vợ chồng cũng đạt đƣợc sự đồng thuận về vấn đề sử dụng, định đoạt tài sản chung thậm chí gây ra những mâu thuẫn, căng thẳng. Trong khi đó, việc định đoạt tài sản riêng về nguyên tắc không cần có sự nhất trí của bên kia. Chính vì lẽ đó mà việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là 9 giải pháp tối ƣu để loại bỏ những mâu thuẫn trong quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản. Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân làm thay đổi các khối tài sản của vợ chồng, làm ảnh hƣởng đến quyền và nghĩa vụ của vợ chồng song điểm đặc biệt là không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân trƣớc pháp luật.
Mặc dù đã có những quy định cụ thể hơn song những quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân còn thiếu và có nhiều điểm bất cập. Khái niệm chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chƣa đƣợc ghi nhận trong bất kỳ văn bản pháp luật nào nhƣng có thể hiểu là: Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là việc chuyển một phần hoặc toàn bộ tài sản vốn là tài sản chung của vợ chồng thành tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng theo sự thỏa thuận của vợ chồng hoặc do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ, chồng khi có những lý do nhất định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên vợ, chồng và người thứ ba có liên quan mà không làm chấm dứt quan hệ giữa vợ và chồng trước pháp luật. Đặc điểm của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có một số đặc điểm cơ bản sau: Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật Sau khi tiến hành chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, giữa hai bên vợ, chồng vẫn tồn tại mọi quyền và nghĩa vụ của vợ chồng nhƣ nghĩa vụ chung thủy, thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con; quyền đƣợc lựa chọn nơi cƣ trú, quyền thừa kế tài sản của nhau khi một bên chết trƣớc… Đây là một trong những đặc điểm nổi bật, quan trọng nhất của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để phân biệt với những trƣờng hợp chia tài sản chung khác của vợ chồng nhƣ chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn hay chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ hoặc chồng chết trƣớc. Nếu nhƣ 10 kết hôn là thời điểm đầu tiên của hôn nhân, là sự kiện gắn kết giữa hai bên nam nữ làm phát sinh một thực thể là gia đình thì khi vợ hoặc chồng chết trƣớc là thời điểm cuối cùng của hôn nhân.
Việc một bên vợ hoặc chồng chết trƣớc hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết sẽ làm chấm dứt quan hệ hôn nhân, tài sản chung của vợ chồng sẽ đƣợc chia theo yêu cầu của ngƣời chồng hoặc ngƣời vợ còn sống hoặc của những ngƣời thừa kế của vợ, chồng đã chết. Tƣơng tự, trƣờng hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn làm chấm dứt quan hệ vợ chồng trƣớc pháp luật. Ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhƣng cũng không thể phủ nhận mặt tích cực mà nó mang lại khi mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc. Theo nguyên tắc chung, khi bản án, quyết định cho ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật, quan hệ vợ chồng sẽ chấm dứt.
Khi ly hôn, tài sản chung của vợ chồng đƣợc chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án. Nhƣ vậy, hai trƣờng hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn hoặc khi một bên vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết làm chấm dứt quan hệ vợ chồng trƣớc pháp luật thì trái lại, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt quan hệ vợ chồng trƣớc pháp luật. Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt chế độ tài sản chung của vợ chồng Điều này đƣợc thể hiện rõ nhất trong trƣờng hợp vợ chồng chỉ chia một phần tài sản chung bởi phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. Ngay cả trƣờng hợp chia toàn bộ tài sản chung thì khối tài sản chung vẫn có thể phát sinh chẳng hạn nhƣ sau khi chia tài sản chung vợ chồng lại đƣợc thừa kế chung, tặng cho chung.
Nhƣ vậy, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt chế độ tài sản chung của vợ chồng. Trong khi đó, trƣờng hợp ly hôn hoặc trƣờng hợp một bên vợ hoặc chồng chết trƣớc, do quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng đã chấm dứt nên việc chia tài sản chung trong những trƣờng hợp này luôn dẫn đến chấm dứt chế độ tài sản chung. 11 Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chỉ phát sinh khi có những lý do nhất định Khoản 1 Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000 đã đƣa ra những lý do để vợ, chồng có thể thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Lý do thứ nhất là vợ chồng đầu tƣ kinh doanh riêng.
Quy định này xuất phát trên cơ sở tôn trọng quyền tự do kinh doanh của công dân đã đƣợc ghi nhận tại Điều 57 Hiến pháp năm 1992 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2001: "Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật" [38]. Nếu một bên vợ, chồng hoặc cả hai bên muốn đầu tƣ kinh doanh riêng thì có thể chia tài sản chung. Quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân giúp cho vợ, chồng thực hiện đƣợc ý định kinh doanh của mình đồng thời góp phần bảo vệ lợi ích chung của gia đình. Trong nền kinh tế thị trƣờng, vợ, chồng ngày càng tham gia nhiều hơn vào các giao dịch dân sự, thƣơng mại và sử dụng nguồn vốn và tƣ liệu sản xuất để mang lại lợi nhuận cao nhất.
Tuy nhiên, việc kinh doanh, buôn bán không phải lúc nào cũng thuận lợi.