Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật "Quyền và nghĩa vụ của người bị kiện trong tố tụng hành chính" được tác giả Đặng Thị Cẩm Nhung thực hiện tại Khoa Luật Hành chính – Nhà nước, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (niên khóa 2019 - 2023) dưới sự hướng dẫn của Th.S Dũng Thị Mỹ Thẩm.

Xuất phát từ nguyên tắc hiến định và tinh thần của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 quy định mọi người đều bình đẳng trước Tòa án và cơ quan tài phán, việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự là yêu cầu trọng tâm trong tố tụng hành chính (TTHC). Trong một vụ án hành chính (VAHC), người bị kiện (NBK) giữ tư cách chủ thể bắt buộc và then chốt. Kể từ khi Luật Tố tụng hành chính năm 2015 có hiệu lực thi hành, các quy định về quyền và nghĩa vụ (Q&NV) của người tham gia tố tụng đã được cụ thể hóa, tạo hành lang pháp lý bảo vệ quyền lợi đương sự và nâng cao hiệu quả xét xử.

Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy việc thực hiện Q&NV của NBK vẫn bộc lộ nhiều khó khăn, bất cập: ý thức chấp hành và trách nhiệm của NBK chưa cao (như chậm trễ hoặc từ chối cung cấp chứng cứ, vắng mặt không lý do, gây trở ngại cho hoạt động tống đạt văn bản tố tụng), làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án và phát sinh bức xúc cho người khởi kiện (NKK). Trước yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật TTHC, đề tài được triển khai nhằm giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  1. Làm rõ cơ sở lý luận về Q&NV của NBK trong TTHC, tạo tiền đề phân tích các quy định pháp luật thực định.
  2. Làm nổi bật và phân tích có hệ thống các quy định của pháp luật TTHC hiện hành về Q&NV của NBK.
  3. Chỉ rõ những vướng mắc, bất cập trong quy định pháp luật và thực tiễn thi hành; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện về mặt pháp lý và thực tiễn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống lý luận, các quy phạm pháp luật TTHC về Q&NV của NBK và thực tiễn thực hiện các quyền, nghĩa vụ này tại Tòa án nhân dân các cấp.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các Q&NV cơ bản của NBK theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) bao gồm: thu thập, cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh; cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng (VBTT); tự bảo vệ hoặc nhờ luật sư bảo vệ quyền lợi; kháng cáo và đề nghị kháng nghị; sửa đổi, hủy bỏ quyết định hành chính (QĐHC), dừng, khắc phục hành vi hành chính (HVHC) bị khởi kiện. Đề tài không nghiên cứu thủ tục xét xử rút gọn.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Số liệu thống kê công tác xét xử của ngành Tòa án, Viện kiểm sát giai đoạn 2016 – 2022; số liệu thực tiễn và khảo sát 300 bản án sơ thẩm năm 2022 tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm của Đảng và Nhà nước, cùng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Khung pháp lý và cơ sở lý luận của đề tài dựa trên:

  • Văn bản pháp luật: Hiến pháp năm 2013; Luật Tố tụng hành chính năm 2010; Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Luật số 55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước; Luật Giao dịch điện tử năm 2005.
  • Văn bản giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật: Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề tố tụng; Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc nghiệp vụ.
  • Hệ thống khái niệm: Tiếp cận đa chiều dưới góc độ ngôn ngữ học, khoa học pháp lý và luật thực định về khái niệm "quyền", "nghĩa vụ", "người bị kiện" và "quyền và nghĩa vụ của người bị kiện trong VAHC".

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Sử dụng để khái quát hóa các thuộc tính lý luận và cụ thể hóa các quy định của Luật TTHC năm 2015 vào vị trí tố tụng của NBK.
  • Phương pháp phân tích luật viết và so sánh: Đánh giá các điều luật điều chỉnh Q&NV của NBK giữa Luật TTHC năm 2015 với Luật TTHC năm 2010 nhằm chỉ ra điểm mới và kẽ hở pháp lý.
  • Phương pháp thống kê và tổng hợp: Xử lý số liệu từ Báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ 2016 – 2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Báo cáo công tác của Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2018 – 2022, Báo cáo giám sát của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội và khảo sát thực chứng 300 bản án sơ thẩm năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về quyền và nghĩa vụ của người bị kiện trong tố tụng hành chính

Chương 1 làm rõ các vấn đề lý luận và rà soát hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh tư cách pháp lý của NBK:

  1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa:

    • Khái niệm: Theo khoản 9 Điều 3 Luật TTHC năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), NBK là cơ quan, tổ chức, cá nhân có QĐHC, HVHC, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước, danh sách cử tri bị khởi kiện. Tư cách của NBK xuất hiện thụ động khi có đơn khởi kiện hợp lệ được thụ lý.
    • Đặc điểm: (i) Q&NV là những điều NBK được phép thực hiện hoặc bắt buộc thực hiện theo luật định; (ii) Phát sinh trực tiếp khi tham gia quan hệ pháp luật TTHC cụ thể; (iii) Quyền tồn tại song song, thống nhất với nghĩa vụ; (iv) Đặt trong mối quan hệ bình đẳng, tương tác với cơ quan và người tiến hành tố tụng (THTT).
    • Ý nghĩa: Góp phần giải quyết VAHC khách quan, chính xác, hạn chế tình trạng hủy/sửa án; bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự; nâng cao trách nhiệm, ý thức quản lý hành chính nhà nước và tạo cơ chế để cơ quan nhà nước tự khắc phục sai lầm.
  2. Các nhóm quyền và nghĩa vụ luật định của NBK:

    • Thu thập, cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh (Điều 9, Điều 55, Chương VI Điều 78 – 98): NBK có nghĩa vụ cung cấp hồ sơ giải quyết khiếu nại và các tài liệu căn cứ ban hành đối tượng bị kiện; có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức lưu giữ chứng cứ cung cấp hoặc đề nghị Tòa án xác minh, thu thập, trưng cầu giám định, định giá tài sản; quyền được biết, ghi chép, sao chụp chứng cứ (trừ tài liệu thuộc bí mật theo khoản 2 Điều 96).
    • Cấp, tống đạt, thông báo VBTT (Điều 99 – 104, Điều 303): Đảm bảo quyền được thông tin hợp lệ của NBK; luật bổ sung phương thức tống đạt điện tử nhưng loại bỏ chế tài xử lý người không hoàn thành trách nhiệm tống đạt so với Luật năm 2010.
    • Tự bảo vệ hoặc nhờ luật sư bảo vệ quyền lợi (Điều 19, Điều 61): Thể hiện nguyên tắc hiến định về quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp.
    • Quyền sửa đổi, hủy bỏ QĐHC, dừng, khắc phục HVHC bị khởi kiện (khoản 3 Điều 57): Quyền đặc thù của NBK với tư cách chủ thể quản lý nhà nước; thủ tục xử lý được phân định rạch ròi theo từng giai đoạn: chuẩn bị xét xử sơ thẩm (Điều 140, Điều 143), phiên tòa sơ thẩm (Điều 165 và hướng dẫn tại Công văn 64/TANDTC-PC) và giai đoạn phúc thẩm (Điều 235).

Chương 2: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện về quyền và nghĩa vụ của người bị kiện trong tố tụng hành chính

Chương 2 phân tích thực trạng áp dụng pháp luật dựa trên các báo cáo thực tiễn, số liệu thống kê và chỉ ra các vướng mắc:

  1. Số liệu thống kê thực trạng giải quyết VAHC: Trong giai đoạn 2016 – 2020, Viện kiểm sát nhân dân các cấp kiểm sát 33.011 VAHC (tăng 10,1% so với nhiệm kỳ trước). Tòa án đã thụ lý 36.354 vụ, giải quyết 32.466 vụ (đạt 89,3%).
Năm Số vụ thụ lý (vụ) Số vụ giải quyết (vụ) Tỷ lệ giải quyết (%) Tỷ lệ án bị hủy (%) Tỷ lệ án bị sửa (%)
2018 10.506 6.575 62,58% 4,43% 3,00%
2019 10.785 7.142 66,22% 4,16% 3,40%
2020 12.470 8.582 68,80% 3,26% 2,92%
2021 10.728 5.693 53,10% 2,44% 2,82%
2022 11.746 8.524 72,60% 2,16% (không nêu)
  1. Những bất cập chủ yếu trong thực tiễn thực hiện:

    • Vi phạm nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ: Tình trạng NBK (đặc biệt là UBND, Chủ tịch UBND) chậm trễ hoặc không cung cấp hồ sơ diễn ra phổ biến. Báo cáo của TAND tối cao cho thấy có tới 57/63 đơn vị Tòa án cấp tỉnh phản ánh khó khăn trong việc thu thập chứng cứ từ phía cơ quan hành chính.
      • Dẫn chứng 1: Vụ án thụ lý số 88/2021/TLST-HC tại TAND TP. Hải Phòng (khiếu kiện đất đai), Tòa án thông báo 3 lần nhưng UBND huyện Thủy Nguyên không giao nộp hồ sơ, dẫn đến Tòa án phải ban hành Quyết định tạm đình chỉ số 03/2022/QĐST-HC trái quy định, sau đó bị TAND Cấp cao tại Hà Nội hủy quyết định tạm đình chỉ (Quyết định số 111/2022/QĐ-PT).
      • Dẫn chứng 2: Vụ án tranh chấp đường đi tại huyện Ea H'Leo (Đắk Lắk), UBND huyện không cung cấp hồ sơ giải quyết khiếu nại làm Tòa án cấp phúc thẩm đánh giá sai chứng cứ dẫn đến hủy quyết định hành chính đúng luật; sau đó bị Ủy ban Thẩm phán TAND Cấp cao tại Đà Nẵng hủy án phúc thẩm theo Quyết định giám đốc thẩm số 05/2020/HC-GĐT.
    • Khó khăn trong hoạt động cấp, tống đạt VBTT: NBK là lãnh đạo UBND rất ít khi trực tiếp tham gia tố tụng và không ủy quyền cho cấp phó nhận VBTT; bộ phận văn thư cơ quan hành chính thường từ chối ký biên bản giao nhận tống đạt (dẫn chứng qua thực tiễn TAND hai cấp TP.HCM).
    • Hạn chế trong việc tham gia của người bảo vệ quyền lợi: Tỷ lệ luật sư tham gia VAHC thấp hơn nhiều so với án hình sự, dân sự, kinh tế. Khảo sát thực tế của tác giả đối với 300 bản án sơ thẩm VAHC năm 2022 tại TAND TP.HCM cho thấy: 67% vụ án NBK có luật sư bảo vệ quyền lợi, 33% vụ án NBK không có người bảo vệ quyền lợi.
  2. Định hướng giải pháp hoàn thiện:

    • Về mặt pháp lý: Bổ sung chế tài cụ thể xử lý hành vi chậm trễ, cản trở cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc từ chối nhận văn bản tố tụng của NBK; hoàn thiện quy định về cơ chế tống đạt điện tử và ủy quyền tham gia tố tụng.
    • Về mặt thực tiễn: Nâng cao tinh thần trách nhiệm công vụ, kỷ luật hành chính của người đứng đầu cơ quan hành chính; tăng cường công tác phối hợp giữa Tòa án và UBND các cấp; đẩy mạnh vai trò của luật sư trong bảo vệ quyền lợi của NBK.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và pháp lý về địa vị tố tụng, cấu trúc quyền và nghĩa vụ của NBK theo Luật TTHC năm 2015 và các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của TAND tối cao.
  • Phản ánh trung thực thực trạng xét xử thông qua hệ thống dữ liệu thống kê chính thức của TAND tối cao (2018 - 2022), VKSND tối cao và khảo sát thực chứng 300 bản án sơ thẩm hành chính năm 2022 tại TAND TP.HCM.
  • Chỉ ra nguyên nhân trực tiếp dẫn đến án hành chính bị hủy, sửa hoặc đình chỉ giải quyết không đúng luật xuất phát từ việc NBK không chấp hành đúng nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và không hợp tác trong tống đạt VBTT.

Giải pháp và kiến nghị

  • Hoàn thiện các điều luật trong Luật TTHC liên quan đến trách nhiệm giao nộp chứng cứ đúng thời hạn và trách nhiệm tiếp nhận văn bản tố tụng của cơ quan hành chính nhà nước.
  • Thiết lập cơ chế kiểm điểm trách nhiệm công vụ đối với cá nhân, thủ trưởng cơ quan hành chính vi phạm nghĩa vụ tố tụng theo báo cáo giám sát của cơ quan dân cử.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước

Khóa luận đã khắc phục sự tản mạn của các công trình đi trước (vốn chỉ tiếp cận riêng lẻ về chứng minh, đối thoại hay sự vắng mặt của đương sự) bằng việc phân tích chuyên sâu, đa chiều và có hệ thống toàn bộ nhóm Q&NV đặc thù của người bị kiện, kết hợp giữa bình luận lập pháp và đánh giá án văn thực tế.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu thực tiễn và khảo sát bản án chuyên sâu của đề tài tập trung chủ yếu tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và một số án văn điển hình tại các Tòa án nhân dân cấp cao; chưa tiến hành khảo sát định lượng trên quy mô toàn bộ 63 tỉnh, thành phố. Đề tài không đi sâu vào thủ tục rút gọn trong tố tụng hành chính.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế chế tài đối với trách nhiệm hành chính - công vụ của NBK khi không chấp hành bản án hành chính đã có hiệu lực pháp luật; nghiên cứu mô hình Tòa án điện tử và việc ứng dụng giao dịch điện tử toàn diện trong tống đạt văn bản tố tụng hành chính.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hành chính – Luật Tố tụng hành chính; giảng viên nghiên cứu pháp luật tố tụng tư pháp; cán bộ làm công tác tham mưu pháp chế tại các cơ quan quản lý nhà nước, Ủy ban nhân dân các cấp; Luật sư và Thẩm phán giải quyết án hành chính.
  • Nội dung giá trị: Phần luận giải các quy định về thời hạn cung cấp chứng cứ (theo Công văn 02/GĐ-TANDTC), trình tự xử lý khi NBK hủy bỏ QĐHC bị kiện (theo Công văn 64/TANDTC-PC) và các số liệu thực chứng về án hành chính giai đoạn 2018 – 2022.

Câu hỏi thường gặp

1. Người bị kiện trong tố tụng hành chính gồm những đối tượng nào theo luật hiện hành?

Theo khoản 9 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 55/2019/QH14), người bị kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước, danh sách cử tri bị khởi kiện.

2. Khi đương sự chậm giao nộp chứng cứ ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, Tòa án xử lý như thế nào?

Theo khoản 2 Điều 133 Luật TTHC năm 2015 và hướng dẫn tại Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của TAND tối cao: đương sự phải chứng minh lý do chậm giao nộp. Nếu lý do chính đáng, Hội đồng xét xử chấp nhận việc giao nộp. Nếu lý do không chính đáng, Tòa án không chấp nhận tài liệu đó nhưng phải lập luận rõ trong bản án, quyết định; trừ trường hợp tài liệu đã nộp chưa đủ cơ sở giải quyết thì Thẩm phán, HĐXX yêu cầu nộp bổ sung hoặc tự mình xác minh, thu thập.

3. Tòa án xử lý như thế nào nếu tại phiên tòa sơ thẩm, người bị kiện hủy bỏ quyết định hành chính nhưng người khởi kiện không rút đơn?

Theo hướng dẫn tại mục 3 Điều III Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của TAND tối cao: Tòa án không đình chỉ vụ án mà phải tiếp tục xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khởi kiện và quyết định hành chính mới. Căn cứ khoản 2 Điều 193 Luật TTHC năm 2015, Tòa án sẽ bác yêu cầu khởi kiện nếu không có căn cứ pháp luật, hoặc chấp nhận một phần/toàn bộ yêu cầu nếu các quyết định đó trái pháp luật.

4. Báo cáo của TAND tối cao ghi nhận bao nhiêu đơn vị Tòa án cấp tỉnh gặp khó khăn trong việc thu thập chứng cứ từ UBND?

Theo Báo cáo giám sát của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội dẫn số liệu từ TAND tối cao, có tới 57/63 đơn vị Tòa án nhân dân cấp tỉnh phản ánh gặp khó khăn, vướng mắc trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ do UBND, Chủ tịch UBND không cung cấp đầy đủ hoặc cung cấp không đúng thời hạn.

5. Kết quả khảo sát 300 bản án sơ thẩm năm 2022 tại TAND TP.HCM về sự tham gia của luật sư bảo vệ NBK cho kết quả ra sao?

Khảo sát 300 bản án sơ thẩm VAHC năm 2022 của TAND TP.HCM trên Cổng thông tin công bố bản án của TAND tối cao cho thấy: tỷ lệ NBK có luật sư tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đạt 67%, trong khi 33% số vụ án còn lại NBK không có người bảo vệ quyền lợi tham gia tố tụng.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thị Cẩm Nhung đã phân tích có hệ thống các vấn đề lý luận và pháp lý thực định về quyền và nghĩa vụ của người bị kiện trong tố tụng hành chính Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích quy phạm với việc xử lý số liệu thống kê công tác xét xử giai đoạn 2018 – 2022 và án văn thực tế, đề tài đã chỉ rõ những bất cập trong việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và tống đạt văn bản tố tụng. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao trách nhiệm tố tụng của cơ quan hành chính được đề xuất mang tính đồng bộ, góp phần nâng cao chất lượng và tiến độ giải quyết các vụ án hành chính hiện nay.