Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền tự định đoạt của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự. Chương 2: Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về quyền tự định đoạt của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự. Chương 3: Thực tiễn thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự và kiến nghị. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 1.
Khái niệm, ý nghĩa của quyền tự định đoạt của đƣơng sự trong giải quyết vụ án dân sự 1. Khái niệm quyền tự định đoạt của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự Xã hội là hệ thống các quan hệ đa dạng và phức tạp. Quyền và lợi ích của các chủ thể là tiền đề, động lực để các chủ thể tham gia vào các quan hệ xã hội. Khi tham gia vào các quan hệ xã hội, các chủ thể phải thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Việc một chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật có thể sẽ xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác và dẫn đến tranh chấp. Các chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm có quyền sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để bảo vệ quyền, lợi ích đó như yêu cầu người có hành vi trái pháp luật chấm dứt hành vi trái pháp luật, yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Căn cứ Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 thì Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam. Theo đó, khi có chủ thể yêu cầu bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của họ trong trường hợp có vi phạm hoặc có tranh chấp thì Tòa án phải xem xét thụ lý giải quyết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ.
Các vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động do Tòa án giải quyết được gọi là vụ việc dân sự. Trong đó, đối với những việc có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên được gọi là vụ án dân sự; đối 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với những việc không có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên được gọi là việc dân sự (Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011). Như vậy, đặc trưng của vụ án dân sự là có tranh chấp giữa các bên tham gia quan hệ dân sự, đó là sự không thống nhất về việc thực hiện hay không thực hiện quyền hoặc nghĩa vụ của một trong hai bên khi tham gia các quan hệ dân sự trong đời sống (mỗi bên có thể là một hoặc nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức), trong đó một bên yêu cầu Tòa án buộc bên kia phải thực hiện một số nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động. Đương sự trong tố tụng dân sự là các chủ thể có quyền, lợi ích trong vụ việc dân sự cần giải quyết.
Đương sự trong vụ án dân sự có thể là cá nhân, cơ quan hay tổ chức, bao gồm: nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến giải quyết vụ án. Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự (TTDS) nói chung và trong giải quyết vụ án dân sự nói riêng là một trong những quyền tố tụng quan trọng của đương sự để đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, quyền này cũng được ghi nhận là một trong những nguyên tắc cơ bản của Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Quyền tự định đoạt của đương sự được hình thành và bắt nguồn từ bản chất của các quan hệ dân sự được xác lập trên cơ sở bình đẳng, tự do, tự nguyện, cam kết và thỏa thuận. Trên cơ sở đó, các bên hoàn toàn tự nguyện khi tham gia quan hệ dân sự và khi có tranh chấp phát sinh từ các quan hệ này thì các chủ thể hoàn toàn có quyền quyết định phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Ngay cả khi quyết định phương thức yêu cầu Tòa án bảo vệ thì trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án, các chủ thể này hay còn được gọi là đương sự vẫn có quyền tự định đoạt để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho mình. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở góc độ thuật ngữ thì “Quyền” là một khái niệm pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó mà cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế. Mặt khác, “Quyền” còn được hiểu là quyền năng mà pháp luật thực định quy định cho mỗi chủ thể pháp luật, cho phép các chủ thể đó làm một việc gì đó, yêu cầu hoặc ngăn cản người khác làm một việc gì đó vì lợi ích của chính mình hoặc vì lợi ích người khác. Như vậy, có thể nhận thấy, dấu hiệu đặc trưng của quyền là được ghi nhận về mặt pháp lý và được bảo đảm thực hiện bởi các quy định của pháp luật, đồng thời phải có sự thừa nhận về mặt xã hội, gắn liền với các chủ thể và được thể hiện cụ thể trong thực tế đời sống thông qua các quan hệ xã hội nhất định.
Đối với cá nhân, các quyền cơ bản phát sinh và ghi nhận khi cá nhân phát triển đến một giai đoạn nhất định, tham gia những quan hệ xã hội, những lĩnh vực hoạt động nhất định. Theo Từ điển Tiếng Việt, “định đoạt” được hiểu là “quyết định dứt khoát, dựa vào quyền hành tuyệt đối của mình” [47]. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội, thì quyền tự định đoạt của đương sự là “Quyền tố tụng dân sự của đương sự tự quyết định việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ tại Tòa án… Trong tố tụng dân sự, đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; rút đơn khởi kiện, thay đổi yêu cầu khi khởi kiện; hòa giải với đương sự phía bên kia” [48, tr. Khi nói đến khái niệm “quyền” thì nội hàm của nó đã bao hàm cả tính “tự định đoạt” của chủ thể có quyền, nhưng không phải trong mọi trường hợp thuộc tính “tự định đoạt” cũng được phản ánh đầy đủ trong phạm vi quyền.
Chỉ trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thì quyền “tự định đoạt” của chủ thể mới được sử dụng rộng rãi và sâu sắc. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quyền tự định đoạt của đương sự là quyền năng đặc thù của các đương sự. Trong quan hệ dân sự, quyền tự định đoạt của các chủ thể được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu, được biểu hiện ở việc các bên tự quyết định về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Trong tố tụng dân sự, quyền tự định đoạt của đương sự là quyền của đương sự trong việc tự quyết định việc tham gia tố tụng và thực hiện các quyền tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình tại Tòa án.
Trong suốt quá trình tố tụng, các đương sự cũng có thể ủy quyền cho người khác thực hiện một số hoặc toàn bộ quyền và nghĩa vụ của mình, nhưng quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc về chính bản thân các đương sự. Khi có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, việc khởi kiện hay không khởi kiện là do đương sự tự quyết định. Sau khi khởi kiện có thay đổi nội dung khởi kiện hay không, có thỏa thuận giải quyết việc kiện hay không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các đương sự. Điều đó có nghĩa, các đương sự hoàn toàn có quyền chủ động trong việc giải quyết các mâu thuẫn, các tranh chấp hoặc các vấn đề có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Tòa án chỉ thụ lý để giải quyết khi đương sự có đơn yêu cầu nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo quy định của pháp luật. Như vậy, quyền tự định đoạt của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự là quyền tự quyết định về phương tiện tố tụng trước Tòa án nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm. Các đương sự có quyền lựa chọn các biện pháp pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích của mình thông qua những hành vi cụ thể dựa trên cơ sở ý chí tự nguyện của chính bản thân đương sự. Quyền này được thực hiện trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên nó có mối liên hệ trực tiếp đến hoạt động của Tòa án và ít nhiều sẽ bị ảnh hưởng, bị chi phối bởi những quyết định của Tòa án.
Tòa án - cơ quan nhân danh quyền lực Nhà nước bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự và đảm bảo cho các quyền này được thực thi trên thực tế. Quyền tự định đoạt của đương sự thể hiện sự tự do ý chí của đương sự trong việc giải quyết tranh chấp, nhưng đương sự không được thể hiện ý chí định đoạt một cách tùy tiện mà phải thực hiện trong khuôn khổ nhất định do pháp luật quy định, sao cho không xâm phạm tới các quyền tố tụng và quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác hoặc lợi ích của Nhà nước và xã hội. Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 (sau đây gọi tắt là BLTTDS) quy định về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, theo đó: Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.