Quyền và Nghĩa Vụ Pháp Lý của Người Bị Buộc Tội trong Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ls quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội trong luật tố tụng hình sự việt nam trên cơ, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

105
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1. Khái niệm, cơ sở và ý nghĩa của việc quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự

1.2. Khái niệm quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự

1.3. Cơ sở của việc quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự

1.4. Ý nghĩa của việc quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự

1.5. Quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội trong Luật pháp quốc tế

1.6. Sơ lược quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam qua các thời kỳ

1.6.1. Quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội trong giai đoạn 1945 – 1988

1.6.2. Quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội theo luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 1988

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI

2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội

2.2. Các quyền và nghĩa vụ chung của người bị buộc tội

2.3. Quyền và nghĩa vụ của người bị bắt

2.4. Quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ

2.5. Quyền và nghĩa vụ của bị can

2.6. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo

2.7. Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội

2.8. Những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân khó khăn hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội

2.8.1. Những khó khăn, hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội

2.8.2. Nguyên nhân khó khăn hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội

3. CHƯƠNG 3: BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM BẢO ĐẢM QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI

3.1. Những điểm mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội

3.2. Một số kiến nghị nhằm bảo đảm quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội

3.2.1. Kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật

3.2.2. Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Quyền và Nghĩa Vụ Pháp Lý của Người Bị Buộc Tội

Quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội trong Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam là một chủ đề quan trọng, phản ánh sự tôn trọng quyền con người trong quá trình tố tụng. Theo Hiến pháp năm 2013, người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi có bản án kết tội của Tòa án. Điều này thể hiện nguyên tắc suy đoán vô tội, một trong những quyền cơ bản của người bị buộc tội. Quy định này không chỉ bảo vệ quyền lợi của cá nhân mà còn góp phần nâng cao tính công bằng trong hệ thống tư pháp.

1.1. Khái niệm Quyền và Nghĩa Vụ Pháp Lý

Quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội bao gồm các quyền như quyền bào chữa, quyền được thông báo về quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Nghĩa vụ pháp lý bao gồm việc tuân thủ các quy định của pháp luật trong quá trình tố tụng. Những quyền này được quy định rõ ràng trong Bộ luật Tố tụng Hình sự, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội.

1.2. Ý nghĩa của Quyền và Nghĩa Vụ Pháp Lý

Việc quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân mà còn đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quá trình tố tụng. Điều này giúp nâng cao niềm tin của người dân vào hệ thống tư pháp, đồng thời tạo ra một môi trường pháp lý lành mạnh.

II. Vấn đề và Thách Thức trong Quyền và Nghĩa Vụ Pháp Lý

Mặc dù có nhiều quy định bảo vệ quyền lợi của người bị buộc tội, nhưng thực tế vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc thực thi các quyền này. Các vấn đề như thiếu thông tin, sự không đồng bộ trong áp dụng pháp luật, và sự thiếu hiểu biết về quyền lợi của người bị buộc tội vẫn còn phổ biến. Điều này dẫn đến việc nhiều người không thể thực hiện đầy đủ quyền lợi của mình trong quá trình tố tụng.

2.1. Những Khó Khăn trong Thực Thi Quyền Bảo Vệ

Nhiều người bị buộc tội không được thông báo đầy đủ về quyền lợi của mình, dẫn đến việc họ không thể thực hiện quyền bào chữa hoặc quyền kháng cáo. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi cá nhân mà còn làm giảm tính công bằng trong hệ thống tư pháp.

2.2. Nguyên Nhân của Những Thách Thức

Nguyên nhân chính của những thách thức này bao gồm sự thiếu hụt thông tin, sự không đồng bộ trong quy trình tố tụng, và sự thiếu hiểu biết của người dân về quyền lợi của mình. Các cơ quan chức năng cần có biện pháp cải thiện tình hình này để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người bị buộc tội.

III. Phương Pháp Bảo Đảm Quyền và Nghĩa Vụ Pháp Lý

Để bảo đảm quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội, cần có các phương pháp và giải pháp cụ thể. Việc nâng cao nhận thức về quyền lợi của người bị buộc tội, cải thiện quy trình tố tụng, và tăng cường sự giám sát của các cơ quan chức năng là rất cần thiết.

3.1. Nâng Cao Nhận Thức về Quyền Lợi

Cần tổ chức các chương trình giáo dục pháp luật để người dân hiểu rõ hơn về quyền lợi của mình trong tố tụng hình sự. Điều này sẽ giúp họ tự bảo vệ quyền lợi của mình tốt hơn.

3.2. Cải Thiện Quy Trình Tố Tụng

Cần cải thiện quy trình tố tụng để đảm bảo tính minh bạch và công bằng. Các cơ quan chức năng cần có biện pháp cụ thể để bảo vệ quyền lợi của người bị buộc tội trong mọi giai đoạn của quá trình tố tụng.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Nghiên Cứu

Việc nghiên cứu và áp dụng các quy định về quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục theo dõi và đánh giá để cải thiện hơn nữa.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Thực Tiễn

Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng các quy định về quyền và nghĩa vụ pháp lý đã giúp nhiều người bị buộc tội bảo vệ quyền lợi của mình tốt hơn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết.

4.2. Đề Xuất Cải Tiến

Cần có các đề xuất cụ thể để cải tiến quy trình tố tụng, nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người bị buộc tội. Các cơ quan chức năng cần lắng nghe ý kiến của người dân để cải thiện hệ thống pháp luật.

V. Kết Luận và Tương Lai của Quyền và Nghĩa Vụ Pháp Lý

Quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội trong Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam là một vấn đề quan trọng, cần được quan tâm và cải thiện. Tương lai của quyền lợi này phụ thuộc vào sự nỗ lực của cả hệ thống pháp luật và xã hội.

5.1. Tương Lai của Quyền Lợi

Tương lai của quyền lợi của người bị buộc tội sẽ được cải thiện nếu có sự đồng bộ trong quy trình tố tụng và sự quan tâm từ các cơ quan chức năng. Điều này sẽ giúp nâng cao tính công bằng trong hệ thống tư pháp.

5.2. Định Hướng Cải Cách Pháp Luật

Cần có các định hướng cải cách pháp luật để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người bị buộc tội. Các biện pháp này cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội trong luật tố tụng hình sự việt nam trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm, cơ sở và ý nghĩa của việc quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Chúng ta đang trên con đường xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Một nhà nước mà quyền con người, quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và luôn được Nhà nước bảo vệ.

Có thể nói, quyền con người là một giá trị thiêng liêng bất khả xâm phạm, nó tồn tại trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực tố tụng hình sự - nơi mà quyền con người dễ bị xâm hại nhất. Chính vì lý do đó, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng và ghi nhận các quyền và nghĩa vụ của những người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong các BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 và mới đây nhất là BLTTHS năm 2015. Trước hết, theo nghĩa phổ thông, quyền là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm của mỗi chủ thể. Theo nghĩa pháp lý, quyền là khả năng được tự do lựa chọn hành động, khả năng này do Hiến pháp và pháp luật ghi nhận.

Chủ thể có quyền thực hiện hoặc không thực hiện, không có giá trị bắt buộc. Còn nghĩa vụ là điều mà pháp luật hoặc xã hội bắt buộc mỗi chủ thể phải làm, nghĩa vụ không phải là khả năng lựa chọn mà là sự bắt buộc thực hiện. Các quyền và nghĩa vụ này được pháp luật bảo vệ cũng như có các biện pháp cưỡng chế nếu chủ thể pháp luật không thực hiện hoặc vi phạm. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 đã ghi nhận: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân” [37, Điều 15].

Tổng hợp các quyền và nghĩa vụ pháp lý tạo nên địa vị pháp lý của một chủ thể pháp luật. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trước khi đưa ra khái niệm cụ thể về quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội, ta cũng cần phải hiểu thế nào là người bị buộc tội. Thuật ngữ người bị buộc tội lần đầu tiên xuất hiện trong Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [37, Điều 31]. Pháp luật tố tụng hình sự các nước cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về phạm vi người bị buộc tội.

Như pháp luật TTHS Đan Mạch, ở Đan Mạch, ngay sau khi một tội phạm được thực hiện, cơ quan điều tra có trách nhiệm phải tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu. “Việc điều tra hoàn tất, khi tổng hợp được những chứng cứ ban đầu để xác định một người tình nghi đã thực hiện tội phạm, thì các cơ quan điều tra và công tối quyết định buộc tội người này. Trong TTHS Đan Mạch tồn tại khái niệm người bị tình nghi trong vụ án để dành cho những đối tượng trước khi bị khởi tố. Có thể thấy, việc buộc tội trong TTHS Đan Mạch được tiến hành cùng với việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tức là chỉ có bị can, bị cáo mới là người bị buộc tội theo luật TTHS Đan Mạch.

Pháp luật tố tụng Liên bang Nga có những đặc điểm gần với pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam nhất. Qua việc nghiên cứu BLTTHS của Liên bang Nga tại Mục 7 quy định về các chủ thể tham gia tố tụng hình sự bên bào chữa chúng ta thấy quy định về người bị tình nghi và bị can, bị cáo. Theo những quy định tại Luật này thì người bị tình nghi được chỉ dẫn ra là tương đối rộng, bao gồm cả người bị bắt và người bị tạm giữ trong pháp luật Việt Nam. Luật TTHS Liên Bang Nga cũng cho nhóm người này có rất nhiều quyền như quyền từ chối khai báo, quyền bào chữa, quyền gặp gỡ riêng và bí mật với người bào chữa.

Có thể thấy, người bị buộc tội trong TTHS Liên bang Nga bao gồm cả những người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Ở Việt Nam thuật ngữ người bị buộc tội là thuật ngữ mới, chưa có 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong BLTTHS năm 2003. BLTTHS 2003 cũng chỉ mới chỉ ghi nhận quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Điều này có thể cho rằng, theo BLTTHS 2003, người bị buộc tội bao gồm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

Tuy nhiên, trong thực tế, khi một người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo lệnh truy nã thì có nghĩa là các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã có các căn cứ để buộc tội những người này, đồng thời họ cũng là những người yếu thế, dễ bị tổn thương trong TTHS. Chính vì vậy, cần phải coi cả người bị bắt là một trong những loại người bị buộc tội. Thêm vào đó, trong BLTTHS năm 2015, thuật ngữ người bị buộc tội đã được diễn giải như sau: “Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” [38,Điều 4]. Người bị buộc tội là người bị tình nghi phạm tội đang trong quá trình giải quyết vụ án, đang bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp cưỡng chế của tố tụng hình sự nhằm xác định sự thật khách quan vụ án.

Những người này có thể là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và theo qui định của pháp luật họ chưa bị coi là người phạm tội mà mới chỉ là người bị tình nghi phạm tội. Vậy để làm rõ khái niệm người bị buộc tội, trước hết, ta cần đi vào tìm hiểu các khái niệm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. - Người bị bắt: Cả BLTTHS năm 1988 và BLTTHS năm 2003 đều không coi người bị bắt là người tham gia tố tụng. Chính bởi thế, cả hai bộ luật này đểu không có khái niệm người bị bắt mà chỉ liệt kê những trường hợp bắt người, đó là: BLTTHS năm 1988 quy định người bị bắt trong những trường hợp sau: người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã; BLTTHS năm 2003 quy định người bị bắt trong những trường hợp sau: người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã.

11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đến khi BLTTHS năm 2015 ra đời, đã coi người bị bắt là một trong những chủ thể người tham gia tố tụng (khoản 4 Điều 55). BLTTHS năm 2015 cũng đã liệt kê những trường hợp người bị bắt là: người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Tuy nhiên, cả BLTTHS năm 2015 cũng chưa chính thức có sự định nghĩa thuật ngữ người bị bắt, có chăng cũng chỉ là định nghĩa theo phương pháp liệt kê, chưa thực sự có một định nghĩa khoa học, đầy đủ nội hàm của khái niệm người bị bắt. Hiện nay trong các sách báo, tạp chí hay các công trình nghiên cứu khoa học cũng rất ít đưa ra định nghĩa khoa học về người bị bắt, do vậy cần có sự định nghĩa cụ thể hơn về người bị bắt để làm rõ hơn nội hàm của khái niệm này.

Cụ thể, tác giả xin đưa ra định nghĩa về người bị bắt như sau: Người bị bắt trong tố tụng hình sự là người bị tình nghi là tội phạm và với họ cần áp dụng biện pháp ngăn chặn và cách ly ngay lập tức để họ không thể tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn. - Người bị tạm giữ: BLTTHS năm 1988 lần đầu tiên đưa ra định nghĩa “Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang và đối với họ đã có quyết định tạm giữ, nhưng chưa bị khởi tố” [34, Điều 38]. BLTTHS năm 1988 là văn bản pháp lý đầu tiên định nghĩa thế nào là“người bị tạm giữ”. Trước đó, nhà làm luật không hề đề cập đến việc định nghĩa thế nào là người bị tạm giữ mặc dù trong các văn bản pháp luật vẫn đề cập đến vấn đề này.

Kế thừa và phát triển những quy định của BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 đã quy định: “Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ” [36, Điều 48]. Đến BLTTHS năm 2015 tiếp tục quy định: “Người bị tạm giữ là người 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ” [38, Điều 59]. So với BLTTHS năm 2003, khái niệm này về cơ bản không có gì khác, có chăng chỉ là khác về cách phân loại người bị bắt và người bị giữ. Ngoài ra, theo quy định của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, người bị tạm giữ còn được định nghĩa là người đang bị quản lý tại cơ sở giam giữ trong thời hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ theo quy định của BLTTHS (khoản 1, Điều 3).

Tuy nhiên, các khái niệm nêu trên về người bị tạm giữ cũng chỉ được định nghĩa theo phương pháp liệt kê, chưa có định nghĩa khoa học mang đầy đủ nội hàm vấn đề. Cụ thể là: Người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự là người bị tình nghi là tội phạm và với họ cần cách ly với xã hội trong một thời gian cần thiết nhằm ngăn chặn việc họ tiếp tục phạm tội, cản trở điều tra và xác định sự liên quan của người đó đối với tội phạm. - Bị can: Thuật ngữ bị can được sử dụng lần đầu tiên trong Sắc lệnh số 13 ngày 21/0/1946 về tổ chức tòa án và các ngạch thẩm phán. Tuy nhiên trong Sắc lệnh chỉ đề cập đến bị can như là can phạm hay người bị Tòa án xét xử chứ không hề định nghĩa rõ ràng người như thế nào thì được gọi là bị can.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Quyền và Nghĩa Vụ Pháp Lý của Người Bị Buộc Tội trong Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quyền lợi và nghĩa vụ của người bị buộc tội trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam. Tài liệu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về quy trình tố tụng mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội, từ đó nâng cao nhận thức về công lý và quyền con người trong bối cảnh pháp lý hiện nay.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận văn thạc sĩ luật học tạm giam bị can trong tố tụng hình sự và thực tiễn thi hành tại viện kiểm sát nhân dân tỉnh thái bình", nơi phân tích thực tiễn áp dụng biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự. Ngoài ra, tài liệu "Luận văn thạc sĩ luật học tạm giam trong tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng của cơ quan cảnh sát điều tra tại tỉnh bắc kạn" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về cách thức thực hiện các biện pháp tạm giam trong các vụ án hình sự. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Luận văn thạc sĩ luật học kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam và thực tiễn tại thị xã sơn tây thành phố hà nội", tài liệu này sẽ giúp bạn nắm bắt được quy trình kiểm sát và tuân thủ pháp luật trong việc áp dụng biện pháp tạm giam.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội mà còn mở rộng kiến thức về các khía cạnh khác của luật tố tụng hình sự tại Việt Nam.