Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm, cơ sở và ý nghĩa của việc quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Chúng ta đang trên con đường xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Một nhà nước mà quyền con người, quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và luôn được Nhà nước bảo vệ.
Có thể nói, quyền con người là một giá trị thiêng liêng bất khả xâm phạm, nó tồn tại trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực tố tụng hình sự - nơi mà quyền con người dễ bị xâm hại nhất. Chính vì lý do đó, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng và ghi nhận các quyền và nghĩa vụ của những người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong các BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 và mới đây nhất là BLTTHS năm 2015. Trước hết, theo nghĩa phổ thông, quyền là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm của mỗi chủ thể. Theo nghĩa pháp lý, quyền là khả năng được tự do lựa chọn hành động, khả năng này do Hiến pháp và pháp luật ghi nhận.
Chủ thể có quyền thực hiện hoặc không thực hiện, không có giá trị bắt buộc. Còn nghĩa vụ là điều mà pháp luật hoặc xã hội bắt buộc mỗi chủ thể phải làm, nghĩa vụ không phải là khả năng lựa chọn mà là sự bắt buộc thực hiện. Các quyền và nghĩa vụ này được pháp luật bảo vệ cũng như có các biện pháp cưỡng chế nếu chủ thể pháp luật không thực hiện hoặc vi phạm. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 đã ghi nhận: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân” [37, Điều 15].
Tổng hợp các quyền và nghĩa vụ pháp lý tạo nên địa vị pháp lý của một chủ thể pháp luật. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trước khi đưa ra khái niệm cụ thể về quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội, ta cũng cần phải hiểu thế nào là người bị buộc tội. Thuật ngữ người bị buộc tội lần đầu tiên xuất hiện trong Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [37, Điều 31]. Pháp luật tố tụng hình sự các nước cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về phạm vi người bị buộc tội.
Như pháp luật TTHS Đan Mạch, ở Đan Mạch, ngay sau khi một tội phạm được thực hiện, cơ quan điều tra có trách nhiệm phải tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu. “Việc điều tra hoàn tất, khi tổng hợp được những chứng cứ ban đầu để xác định một người tình nghi đã thực hiện tội phạm, thì các cơ quan điều tra và công tối quyết định buộc tội người này. Trong TTHS Đan Mạch tồn tại khái niệm người bị tình nghi trong vụ án để dành cho những đối tượng trước khi bị khởi tố. Có thể thấy, việc buộc tội trong TTHS Đan Mạch được tiến hành cùng với việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tức là chỉ có bị can, bị cáo mới là người bị buộc tội theo luật TTHS Đan Mạch.
Pháp luật tố tụng Liên bang Nga có những đặc điểm gần với pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam nhất. Qua việc nghiên cứu BLTTHS của Liên bang Nga tại Mục 7 quy định về các chủ thể tham gia tố tụng hình sự bên bào chữa chúng ta thấy quy định về người bị tình nghi và bị can, bị cáo. Theo những quy định tại Luật này thì người bị tình nghi được chỉ dẫn ra là tương đối rộng, bao gồm cả người bị bắt và người bị tạm giữ trong pháp luật Việt Nam. Luật TTHS Liên Bang Nga cũng cho nhóm người này có rất nhiều quyền như quyền từ chối khai báo, quyền bào chữa, quyền gặp gỡ riêng và bí mật với người bào chữa.
Có thể thấy, người bị buộc tội trong TTHS Liên bang Nga bao gồm cả những người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Ở Việt Nam thuật ngữ người bị buộc tội là thuật ngữ mới, chưa có 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong BLTTHS năm 2003. BLTTHS 2003 cũng chỉ mới chỉ ghi nhận quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Điều này có thể cho rằng, theo BLTTHS 2003, người bị buộc tội bao gồm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Tuy nhiên, trong thực tế, khi một người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo lệnh truy nã thì có nghĩa là các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã có các căn cứ để buộc tội những người này, đồng thời họ cũng là những người yếu thế, dễ bị tổn thương trong TTHS. Chính vì vậy, cần phải coi cả người bị bắt là một trong những loại người bị buộc tội. Thêm vào đó, trong BLTTHS năm 2015, thuật ngữ người bị buộc tội đã được diễn giải như sau: “Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” [38,Điều 4]. Người bị buộc tội là người bị tình nghi phạm tội đang trong quá trình giải quyết vụ án, đang bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp cưỡng chế của tố tụng hình sự nhằm xác định sự thật khách quan vụ án.
Những người này có thể là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và theo qui định của pháp luật họ chưa bị coi là người phạm tội mà mới chỉ là người bị tình nghi phạm tội. Vậy để làm rõ khái niệm người bị buộc tội, trước hết, ta cần đi vào tìm hiểu các khái niệm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. - Người bị bắt: Cả BLTTHS năm 1988 và BLTTHS năm 2003 đều không coi người bị bắt là người tham gia tố tụng. Chính bởi thế, cả hai bộ luật này đểu không có khái niệm người bị bắt mà chỉ liệt kê những trường hợp bắt người, đó là: BLTTHS năm 1988 quy định người bị bắt trong những trường hợp sau: người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã; BLTTHS năm 2003 quy định người bị bắt trong những trường hợp sau: người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đến khi BLTTHS năm 2015 ra đời, đã coi người bị bắt là một trong những chủ thể người tham gia tố tụng (khoản 4 Điều 55). BLTTHS năm 2015 cũng đã liệt kê những trường hợp người bị bắt là: người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Tuy nhiên, cả BLTTHS năm 2015 cũng chưa chính thức có sự định nghĩa thuật ngữ người bị bắt, có chăng cũng chỉ là định nghĩa theo phương pháp liệt kê, chưa thực sự có một định nghĩa khoa học, đầy đủ nội hàm của khái niệm người bị bắt. Hiện nay trong các sách báo, tạp chí hay các công trình nghiên cứu khoa học cũng rất ít đưa ra định nghĩa khoa học về người bị bắt, do vậy cần có sự định nghĩa cụ thể hơn về người bị bắt để làm rõ hơn nội hàm của khái niệm này.
Cụ thể, tác giả xin đưa ra định nghĩa về người bị bắt như sau: Người bị bắt trong tố tụng hình sự là người bị tình nghi là tội phạm và với họ cần áp dụng biện pháp ngăn chặn và cách ly ngay lập tức để họ không thể tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn. - Người bị tạm giữ: BLTTHS năm 1988 lần đầu tiên đưa ra định nghĩa “Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang và đối với họ đã có quyết định tạm giữ, nhưng chưa bị khởi tố” [34, Điều 38]. BLTTHS năm 1988 là văn bản pháp lý đầu tiên định nghĩa thế nào là“người bị tạm giữ”. Trước đó, nhà làm luật không hề đề cập đến việc định nghĩa thế nào là người bị tạm giữ mặc dù trong các văn bản pháp luật vẫn đề cập đến vấn đề này.
Kế thừa và phát triển những quy định của BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 đã quy định: “Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ” [36, Điều 48]. Đến BLTTHS năm 2015 tiếp tục quy định: “Người bị tạm giữ là người 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ” [38, Điều 59]. So với BLTTHS năm 2003, khái niệm này về cơ bản không có gì khác, có chăng chỉ là khác về cách phân loại người bị bắt và người bị giữ. Ngoài ra, theo quy định của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, người bị tạm giữ còn được định nghĩa là người đang bị quản lý tại cơ sở giam giữ trong thời hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ theo quy định của BLTTHS (khoản 1, Điều 3).
Tuy nhiên, các khái niệm nêu trên về người bị tạm giữ cũng chỉ được định nghĩa theo phương pháp liệt kê, chưa có định nghĩa khoa học mang đầy đủ nội hàm vấn đề. Cụ thể là: Người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự là người bị tình nghi là tội phạm và với họ cần cách ly với xã hội trong một thời gian cần thiết nhằm ngăn chặn việc họ tiếp tục phạm tội, cản trở điều tra và xác định sự liên quan của người đó đối với tội phạm. - Bị can: Thuật ngữ bị can được sử dụng lần đầu tiên trong Sắc lệnh số 13 ngày 21/0/1946 về tổ chức tòa án và các ngạch thẩm phán. Tuy nhiên trong Sắc lệnh chỉ đề cập đến bị can như là can phạm hay người bị Tòa án xét xử chứ không hề định nghĩa rõ ràng người như thế nào thì được gọi là bị can.