CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUAN VE QUYEN THAY DOI HO, TÊN CUA CÁ NHAN 1.1 Khái quát chung về họ, tên của cá nhân Ho và tên của một con người sẽ được gắn liên xuyên suốt trong đời sông sinh hoat hằng ngày của ho, là phương tiên giao tiếp, thực hiện các cuộc giao dịch Không Tử đã tùng noi "Mỹ tại kỷ trung” nghia là cái tên như những bộ quân áo của cơn người, là cái vỏ của cuộc đời di tên xâu hay tên đẹp thi người được đất tên cũng phải mang theo nó đền man đờiÌ Vay nên ho, tên của một cả nhân có ý nghĩa rất quan trọng đối với cuộc đời của cá nhân đó, có thé biểu hiện được nguôngôc, lai lich, gới tính của cá nhân. Quyên nhân thân là một bộ phận của quyên con người, quyên dân sự và không tách rời khỏi quyên con người. Có thé khẳng đính, quyền con người là thành quả của sự nghiệp đầu tranh lâu dai và bền bi của cả nhân loại, được hình thành với sự dong gop của tat cả các quốc gia, dân tộc, giai cập, tang lớp và cá nhân con người trên trái dat. Khoản 1 Điều 25 Bồ luật Dân sự năm 2015 khang định, quyên nhân thân là quyền dân su gắn với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác.
Trong đỏ, quyền có họ, tên 1à một loại quyên dân sự, thuộc quyền nhân thân làm cá biệt hóa cá nhân. Ho, tên cùng với số đính danh của cá nhân là đặc điểm để phân biệt cá nhân. nay với cá nhân khác và là các thông tin quan trong, co bản được cá nhân, công dan sử dụng để xác lập, thực hiện, thay đổi, châm đút các quyền và nghĩa vụ dân sự trong đời sông xã hội 1.1 Khái niệm họ Mi cá nhân sinh ra, tôn tại và phát triển đều cân có họ và tên. Trước hệt đó là dâu hiệu dé nhận biết và phân biệt cá nhân này với cá nhân khác, tiếp đó dé đạt được higu quả trong quản ly xã hôi của Nhà nước thi mỗi cá nhân trong xã hội phải có mét cái tên kèm theo một họ nhật định ' Tác gã Pham Ngọc Huy (2015), Vẫn hóa đất tin của người Việt, Tạp chỉ Thé thao vi Văn hóa * Th§.
Nguyễn Vin Huy, Quyền nhân thân trong pháp Mật din sự Việt Num, Tạp chí Dân chủ và Pháp Luật N38. Tư Pháp, Hi Nội ~ 2019, 7 Con người sinh ra có tổ có tông, ai trong chúng ta đều có tổ tiên, nguồn cội của mình Họ là dé chỉ một tập hợp người có cùng tô tiên, cùng dong máu, là phan tên chung được kê thừa tuyệt đổi qua tùng thé hệ, thuờng là từ bô nhưng cũng có nigười mang ho từ mẹ và sẽ thường là ho đơn nhưng cũng có người mang họ kép (ho kép nguyên bản hoặc ho ghép của bồ me). Theo cầu trúc đặt tên của người V iệt Nam, ho được đặt trước tên đệm (nêu có) và tên chính của một người, ding chung cho những người cùng mét dòng máu. Chức năng của họ là dé phân biệt một tập hợp người cùng tô tiên này với một tập hợp người có cùng tô tiên khác.
Ho của người Việt Nam luôn đứng ở vị trí đầu tiên trong cum ho, tên. Ví dụ nhu cụm họ Đảo Lan H thì vi trí đầu tiên là vi trí ho của người đó (ho Dao). Néunhy cũng là ho do được đặt ở vị trí thứ hai thi được coi là tên đệm vi dụ như Nguyén Dao Lan H (thi hola Nguyễn, con Dao lúc này trở thành tên đệm). V ê mat cầu tạo, đa số ho của người Viét tôn tại chủ yêu dưới hình thức đơn âm tiết (còn goi là ho don), mét số ít người việt sẽ có họ kép như Phan Vii, Trân Lê, Vii Pham,.
Vị trí họ của người Việt Nam có nét khác biệt với vị trí ho của người Châu Au. Trong tên goi của nhiêu dân tộc trên thê giới, thành phân họ lai thường nằm ở vị trí cuối cùng của tên gợi. Chẳng hạn như tên của người Nga cầu tại theo mô hinh [Tên- Tên cha- Ho], vi du: Paven Andrayvich Beldp. Trong tên của người Pháp hay người Anh, thành phân họ cũng luôn đứng ở vị trí cuối cùng như.
Trong ứng xử giao tiép, người Việt Nam luôn gọi tên dé phân biệt, xưng hô, nhưng với người Châu Âu thì lại goi ho dé phân tiệt Trong những góc nhìn khác nhau, thi ho sẽ đóng những vai trò nhật định, Dưới góc độ văn hóa, họ thé hiện lich sử bình thành, phát triển của một tập hợp những người có củng một dong máu, huyệt thong với nhau. Dưới góc độ pháp lý, ho có ý ngiña trong công tác quản lý hộ tịch và quyên của công dân liên quan đền họ, tên. VỀ nguôn gốc của họ người ở Việt Nam rất đa dạng, do Việt Nam tử xa xưa đã bị ảnh hưởng bởi sự xâm chiêm, di dân hay giao thoa văn hóa. Họ của người Việt Nam xuất hiện vào khoảng đầu Công N guyên và bắt nguồn từ tên ho của người Trung Quốc và các tên ho do người Việt Nam tự đặt.
Phân lớn các họ phố bién ở mrước ta gắn liên với các triệu đại phong kién Ho phổ biến nhật của người Việt là ho Nguyễn, § theo thông kê năm 2022 thì ho này chiêm tới khoảng 39% dan số V iệt Nam3. Các họ pho biên khác nlxư họ Trân, Lê, Ly cũng là họ của các hoàng tộc đó là nhà Tran, nhà Tiên Lê — Hậu Lê và nhà Lý. Thống kê tên họ người Việt Nam = Nguyễn * Trần siê = Pham = Huynh/Hoang = Phan »VũNõ * Đặng # Bùi .pễ “Hồ Dương oly (Khác) Tom lại theo tác giả, ta có thể hiểu một cách tổng quan: “Ho của mỗi cá nhấn thé hiện dòng máu, nguồn gốc cả nhân mỗi người. Họ của mỗi cá nhân là căn cứ: dâm hiệu phân biết giữa cá nhân nay với cả nhân khác được nhà nước quan lý và 1.12 Tên Trong cầu trúc tên của người Việt Nam thì tên được tạo thành bởi hai yêu tố 1a tên dém và tên chính, hai yêu tô này có ý ngiữa bd sung cho nhau.
Sau đây tác giả xin trình bay khái niém tên đệm và tên chính như sau: Ve ten đệm, tên đệm là yếu tổ xen giữa ho và tên chính, có thé có hoặc không, có được đặt ở vị trí chính giữa ho và tên chinht. V ê mắt cau tạo, tên đệm của người Việt thường có cầu trúc đơn âm tiết nhung trong những năm gần đây, tên đậm phức ` Trong cuốn sách "100 họ pho biện ở Việt Nam" của Nhi sotát bản Khoa học Xi hội mutt bản năm 2022. + Tác giả Nguyễn Long Thao (2005), Tĩnh danh học Việt Nam Tên dim Lich sit tên dém tat Việt Nam, đăng trên Tạp chi VietCatholic News. có câu trúc ghép xuất hiện ngày cảng nhiều ví đụ: Dinh Thị Yén Nhi, Nguyễn Cẩm Tú Lan,.
Trong tên của người Anh thành phân tên đêm nam ở wi trí giữa tên cá nhân và ho, song người Anh thường không quan tâm đến thành phân nay nên khi việt ho tên ho thường việt tất tên đêm, ví đụ Nicky Kent Graham được viết là Nicky KGraham Trong Việt ngữ học, có nhiéu ý kiên khác nhau về lịch sử hình thành tên đệm của người Việt. Chang han, tác giả N guyén Kim Thân cho rang tên đệm ra đời muôn hơn họế. Tuy nhiên tác gid Trên Ngọc Thêm lại cho tên đệm xuất hiện cùng lúc với ho Sau đây là một số bình thức tên đêm thường được sử dung trong các tên goi của nam và nữ ở vùng Đông bằng Bắc bộ theo két quả điều tra của tác giả dựa trên tình thức khảo sát thực tê : : Tỷ E stt| Nam |S6kwng|Tỳylk(%@| Ne | Sdtueng| ` 10 Xuân 60 1,5 Bich 30 0,5 * Nguyễn Kim Thin, Var nét về rên người Việt, Tạp chi Dân tậc học, NXB. KHXH, 5 4, 1915 * Trân Ngọc Thêm, Vi lich sit hưện tại và tương lại của tên riêng người Việt, Tap chi Dân tộc học, 5.3, 1976 10 Tên đệm có những chức năng sau: Thứ nhất, tạo ra sự phân biệt giới tinh.
Vi đụ như một tử tên đệm có chức năng. dé phân biệt r6 rang về giới tính nữ là từ “Tin” (Nguyen Thi Hồng. ), các nhà quyên quý ở Hué trước đây thường dùng tên đệm cho nữ giới là “Diéw” (Lê Diệu Huyện.) còn giới tính nam thì tên đêm là * ăn”, một sô dân tộc ding từ tên đậm là từ "4° (Giảng A Lử,. Hiện nay tên đệm đã phong phú hơn nhiêu để phân biệt giữa nam va nữ.
Thứ hai, tên đệm có chức năng phân biệt chi, ngành trong một dong họ lớn. Rõ ràng hơn như trong dân tộc Kinh một số tên đệm giữ chức năng phân biệt các chi hay ngành của mat gia pha, ví dụ Ngo Thi, Phạm Huy, Pham Trọng,. Thứ ba, tên đậm có chức năng phân biệt thứ bậc trong gia đính, thê hệ và dong ho. Ví đụ như trong mét số gia dinh dùng từ đệm “Ba” dé chỉ cho con cả dong họ trưởng, từ đệm “Manh” dung cho con cả dòng họ thử, “Gia” chỉ con thứ, “Trong” chi con thứ hai Thứ tự, tên đệm con chỉ mối quan hệ giữa các thê hệ con trong gia đính, ví du dân tộc Kinh nhiều gia định đất tên đệm của các cơn theo tên đệm của cha Thứ năm, tên đệm có chức năng thâm mỹ khién cho họ và tên của cá nhân đó trở nên hay hơn, thu hut hơn với moi người Ve tên chính, tên chính là tên gọi của từng cá nhân, ding dé phân biệt với những cá nhân khác.
Tên chính thường ở vị trí cuối cùng trong cum ho-tén’. Tên chính không chỉ ding dé gọi ma còn có giá trị về mắt pháp lý, phải được ding ký chính thức trong các sô hộ tịch của chính quyền địa phương và được sử dụng trong các văn bản hành chính của nhà nước như. giây khai sinh bản khai lý lịch chứng minh thư hoặc căn cước công dân,. Khi đặt tên, người Việt Nam thường rất can trọng kỹ lưỡng bởi vi tên chính di theo xuyên suốt cuộc đời méi con người, gắn chặt với môi cá nhân đó, Đặt tên chính: thường căn cứ vào các đặc điểm, hoàn cảnh, dòng ho, xã hôi, quê hương, ước mong của gia dinh,.
? 1ê Trung Hoa, Cách đặt tên chính của người Việt (Kinh), Trong “Tiếng Việt và các ngôn ngit din tốc phia nam”, Nab KHXH H 1902. 11 Tên chính có thể là từ đơn âm hoặc đa âm, từ nào trong tiếng Việt đều có thể sử dụng dat làm tên chính cho cơn người.