CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỦ ĐIỀU KIỆN VAY THẾ CHẤP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Pháp luật hiện hành điều chỉnh về thế chấp quyền sử dụng đất trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam 1. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật điều chỉnh về thế chấp quyền sử dụng đất trong hoạt động tín dụng ngân hàng của nước ta Đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, việc hình thành nhà nước phải song song với sự hình thành của hệ thống pháp luật. Nhà nước Việt Nam cũng không ngoại lệ, Luật Đất đai ra đời và phát triển theo từng giai đoạn của lịch sử, cụ thể như sau: Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1987, nước ta chưa có luật Đất đai, những vấn đề phát sinh trong quan hệ thế chấp nói chung được điều chỉnh bởi văn bản pháp luật do Quốc hội ban hành.
Ngày 31/12/1959, Quốc hội đã xác định 4 hình thức sở hữu đất đai thông qua Điều 11 Hiến pháp 1959 là: sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu của người lao động riêng lẻ, sở hữu của nhà tư sản dân tộc. Đến ngày 1 tháng 7 năm 1980, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 201/CP về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước. Có thể nói, đây là văn bản pháp quy đầu tiên quy định khá chi tiết, toàn diện về công tác quản lý ruộng đất trong toàn quốc. Quyết định này đã thay đổi hình thức sở hữu đất đai lúc bấy giờ.
Cụ thể, tại mục 1, phần I Quyết định đã xác định rõ: “Toàn bộ ruộng đất trong cả nước đều do Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch và kế hoạch chung nhằm đảm bảo ruộng đất được sử dụng hợp lý, tiết kiệm và phát triển theo hướng đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa”. Sau 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội theo kiểu kinh tế tập trung bao cấp, đến năm 1986, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta bắt đầu công cuộc đổi mới, xoá bỏ bao 11 cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trước tình hình đó, ngày 29 tháng 12 năm 1987, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua luật Đất đai đầu tiên, đó là luật Đất đai năm 1987. Sau giai đoạn bắt đầu đổi mới từ 1986-1991, chúng ta vẫn còn thiếu nhiều quy định và ngay cả hệ thống pháp luật đã ban hành cũng còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được tình hình đổi mới của đất nước.
Vì vậy, Hiến pháp 1992 ra đời, trong đó Điều 17 khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, và Điều 18 quy định rõ: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả”. Ở thời điểm này, quy định như vậy là phù hợp với bản chất của đất đai là lãnh thổ, là tài nguyên và tài sản chung vô cùng quý giá của quốc gia. Việc đa dạng hóa, tư nhân hóa sở hữu đất đai có thể gây ra những rối ren chính trị xã hội khó lường trước hậu quả, đe dọa mục tiêu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để phù hợp với giai đoạn thực hiện đổi mới toàn diện nền kinh tế, cụ thể hoá Hiến pháp năm 1992, khắc phục những hạn chế của luật Đất đai 1987, ngày 14 tháng 7 năm 1993, Quốc hội khoá IX thông qua luật Đất đai 1993.
Hoạt động thế chấp quyền sử dụng đất ra đời khi luật Đất đai của năm 1993 được ban hành với quy định tại Điều 77 cho phép hộ gia đình, cá nhân được giao đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp để trồng rừng được thế chấp quyền sử dụng các loại đất này tại các ngân hàng của Nhà nước, các tổ chức tín dụng Việt Nam do Nhà nước cho phép thành lập để vay vốn sản xuất; hoặc do nhu cầu sản xuất và đời sống được thế chấp quyền sử dụng đất ở với các tổ chức kinh tế, cá nhân Viật Nam ở trong nước. Tiếp đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Đất đai năm 1998; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Đất đai năm 2001 bổ sung các quy định về thế chấp quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất và tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất. Hơn nữa, đối tượng nhận thế chấp được mở rộng: tổ chức, hộ gia đình, cá nhân không chỉ được phép thế chấp quyền sử dụng đất tại các ngân hàng của nhà nước, các tổ chức tín dụng Việt Nam do nhà nước cho phép thành 12 lập; các tổ chức kinh tế, cá nhân Việt Nam ở trong nước mà còn thế chấp tại các tổ chức tín dụng khác được phép hoạt động tại Việt Nam. Luật Đất đai của năm 2003 ra đời tiếp tục mở rộng đối tượng được thế chấp quyền sử dụng đất, không chỉ tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân trong nước được nhà nước giao đất, cho thuê đất mới được thế chấp quyền sử dụng đất mà người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng đất cũng được hưởng quyền này.
Thực tiễn phát triển kinh tế xã hội đã cho thấy luật Đất đai năm 2003 có nhiều vấn đề kìm hãm sự phát triển. Các tổ chức quốc tế khuyến nghị Việt Nam cần sửa đổi luật Đất đai. Vì vậy, Luật này đã được sửa đổi và được đa số đại biểu Quốc hội bỏ phiếu thuận vào ngày 29 tháng 11 năm 2013. Theo Hiến pháp Việt Nam và luật Đất đai 2013, đất đai vẫn thuộc quyền sở hữu của toàn dân, không công nhận quyền sở hữu đất đai của tư nhân.
Ở Việt Nam người dân chỉ có quyền sử dụng đất được nhà nước giao cho. Theo Điều 167 luật Đất đai 2013 về quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất thì hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất được thực hiện quyền thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam. Luật Đất đai 2013 đã được sửa đổi năm 2018 và là Văn bản hợp nhất luật Đất đai 2018 được áp dụng hiện hành. Khái quát chung về thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất trong hoạt động cấp tín dụng ngân hàng Thế chấp tài sản bằng QSDĐ trong hoạt động cấp tín dụng ngân hàng là công cụ đặc biệt hữu hiệu để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế của quốc gia.
Thế chấp QSDĐ để vay vốn ngân hàng là một trong những quyền cơ bản của người sử dụng đất. Theo Điều 167 Văn bản hợp nhất Luật Đất đai 2018 về quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn QSDĐ quy định “hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất được thực hiện quyền thế chấp QSDĐ để vay vốn tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam”. 13 Thế chấp QSDĐ được thực hiện trực tiếp bởi các chủ thể là người có QSDĐ hợp pháp là các cá nhân, tổ chức, hộ gia đình được Nhà nước cho phép sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất thông qua các hình thức pháp lý khác nhau. Đây là cơ sở để trao cho họ những quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể trong quá trình khai thác QSDĐ và trong việc thế chấp vay vốn tại các ngân hàng.
Tuy nhiên, quyền đó luôn phụ thuộc vào sự cho phép của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu. Có thể thấy rằng QSDĐ mang tính phụ thuộc, nhưng đồng thời cũng có tính độc lập tương đối trong quan hệ sử dụng đất. Tuy không đồng nhất giữa quyền sở hữu đất đai và QSDĐ, nhưng thực tế đã trở thành một loại quyền tài sản thuộc về người sử dụng đất. Việc thế chấp QSDĐ trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng chính là thỏa thuận giữa các bên dựa trên các các điều kiện, nội dung, hình thức chuyển QSDĐ được Bộ Luật Dân sự và pháp luật đất đai quy định.
Theo đó, bên thế chấp dùng QSDĐ của mình để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng thương mại. Đây là một trong những quyền quan trọng của người sử dụng đất. Các quy định về thế chấp tài sản là QSDĐ là những chuẩn mực pháp lý cụ thể của Nhà nước, cũng như trách nhiệm pháp lý mà các chủ thể khi thiết lập quan hệ thế chấp QSDĐ phải tuân theo. Điều chỉnh pháp luật về thế chấp QSDĐ là việc Nhà nước thông qua pháp luật tạo ra những chuẩn mực, hành lang pháp lý để tác động, điều chỉnh hành vi của các chủ thể tham gia thế chấp QSDĐ trong hoạt động tín dụng với mục đích trước hết là duy trì sự ổn định của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, tùy thuộc từng tính chất của những quan hệ về QSDĐ có tác dụng làm cân bằng và hài hòa quyền và lợi ích của các bên tham gia quan hệ thế chấp. Tóm lại, việc nghiên cứu vấn đề thế chấp tài sản là QSDĐ trong hoạt động cấp tín dụng ngân hàng không thể không nghiên cứu các khái luận có liên quan như quyền tài sản là QSDĐ, hoạt động tín dụng có đảm bảo bằng tài sản và thế chấp QSDĐ trong hoạt động vay tín dụng ngân hàng. Khái niệm và đặc điểm của quyền tài sản là quyền sử dụng đất Tại Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, QSDĐ và các quyền tài sản khác”. Theo đó, quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, không đòi hỏi có sự chuyển giao trong giao dịch dân sự.
Đối với quyền tài sản là đối tượng giao dịch phải đáp ứng được hai yêu cầu là trị giá được bằng tiền và được chuyển giao cho người khác trong giao dịch dân sự. Quyền tài sản gồm có QSDĐ, quyền tài sản đối với quyền sở hữu trí tuệ và các quyền tài sản khác. Quyền tài sản có thể được chia thành hai loại: quyền đối nhân và quyền đối vật. Quyền đối vật là quyền chủ thể được tác động trực tiếp vào vật nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình như quyền cầm cố, quyền sở hữu, quyền hưởng hoa lợi, quyền thế chấp,… Quyền đối nhân là quyền của chủ thể này đối với chủ thể khác.