phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm 2 chƣơng : Chƣơng 1: Lý luận chung về quyền sao chép tác phẩm Chƣơng 2: Thực trạng, thách thức và một số kiến nghị nhằm bảo hộ hiệu quả quyền sao chép tác phẩm ở Việt Nam Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Trang8 Khoa Luật Quốc tế CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN SAO CHÉP TÁC PHẨM Quyền tác giả là một trong những đối tƣợng đƣợc Nhà nƣớc bảo hộ về sở hữu trí tuệ. Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Quyền nhân thân là những quyền riêng biệt và đƣợc Nhà nƣớc bảo hộ tuyệt đối trong suốt cuộc đời tác giả. Bên cạnh đó, quyền tài sản gồm những quyền gắn liền với tài sản và mang lại lợi ích kinh tế cho tác giả.
Mà trong những quyền này, quyền sao chép là một trong những quyền đƣợc đánh giá là quan trọng nhất.1 Lý luận chung về Quyền sao chép Quyền tác giả nói chung và quyền sao chép nói riêng là một bộ phận trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Việt Nam. Trong đó, quyền sao chép là quyền cơ bản và quan trọng nhất của tác giả sáng tạo ra tác phẩm. Trong những năm gần đây, khi lĩnh vực sở hữu trí tuệ càng ngày càng trở nên phổ biến, các tranh chấp về quyền tác giả phát sinh và có tần suất ngày càng tăng, đặc biệt là những tranh chấp về quyền sao chép. Do đó, vấn đề quyền sao chép là một trong những vấn đề rất đƣợc quan tâm trong xã hội hiện nay.1 Khái quát về Quyền sao chép Pháp luật về sở hữu trí tuệ ra đời với những chế định pháp lý điều chỉnh một số vấn đề đặc thù của ngành luật sở hữu trí tuệ.
Ở Việt Nam, ba đối tƣợng đƣợc Nhà nƣớc bảo hộ về quyền sở hữu trí tuệ: 1.Đối tƣợng là quyền tác giả: Tác phẩm văn học, nghệ thuật và tác phẩm khoa học; đối tƣợng liên quan đến quyền tác giả nhƣ: Cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chƣơng trình phát sóng tín hiệu vệ tinh mang chƣơng trình đƣợc mã hoá; 2.Đối tƣợng là quyền sở hữu công nghiệp: Sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh, tên thƣơng mại, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn; 3.Đối tƣợng là quyền đối với giống cây trồng: Giống cây trồng và vật liệu nhân giống. Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Trang9 Khoa Luật Quốc tế Từ đó, quyền sở hữu trí tuệ bao gồm ba nhóm: Nhóm quyền tác giả (bản quyền tác giả), nhóm sở hữu công nghiệp (quyền sở hữu công nghiệp) và giống cây trồng1. Trong đó, hai nhóm quyền – quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp là những nhóm quyền bị xâm phạm trong xã hội hiện nay. Ở giai đoạn đầu, khi pháp luật về sở hữu trí tuệ Việt Nam mới ra đời và có những bƣớc phát triển đầu tiên, quyền tác giả là lĩnh vực chịu ảnh hƣởng trƣớc hết.
Những chế định đầu tiên về quyền tác giả đƣợc hình thành và tạo ra những tác động nhất định đối với xã hội. Đặc biệt, vấn đề về quyền sao chép là một trong những vấn đề chịu tác động trực tiếp nhất bởi những hành vi xâm hại trái pháp luật hiện hữu. Quyền sao chép là một trong những quyền của tác giả sáng tạo ra tác phẩm.Đây là một quyền hợp pháp của tác giả khi tác giả của tác phẩm đáp ứng những quy định pháp luật cụ thể. Theo quy định pháp luật hiện hành, quyền sao chép chƣa đƣợc ghi nhận cụ thể trong một điều luật hoàn chỉnh nào.
Pháp luật về sở hữu trí tuệ Việt Nam chỉ đƣa ra khái niệm của sao chép. Theo khoản 10 Điều 4 của Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, sao chép đƣợc hiểu là hành vi tạo ra những bản sao của tác phẩm bằng bất kỳ phƣơng tiện hay hình thức nào. Từ đó, có thể lý giải sao chép là việc tạo ra một bản sao, một bản đƣợc xác định là hoàn toàn tƣơng tự nhƣ tác phẩm ban đầu của tác giả. Hành vi tạo ra bản sao này có thể đƣợc thực hiện bằng bất kỳ phƣơng tiện hay hình thức nào dù là các phƣơng tiện thủ công hoặc những phƣơng tiện công nghệ hiện đại.
Pháp luật hiện nay không hƣớng đến việc cá nhân hay chủ thể thực hiện hành vi áp dụng phƣơng thức nào để tạo ra bản sao mà pháp luật chỉ hƣớng đến việc cá nhân, chủ thể đó đã tạo ra một bản sao của tác phẩm. Và hành vi này đƣợc gọi là sao chép và phải đặt dƣới sự điều chỉnh của pháp luật về sao chép, về quyền tác giả. 1 Điều 3 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, sđbs 2009 Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Trang10 Khoa Luật Quốc tế Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý, sao chép là vấn đề còn khá nhiều quan điểm khác nhau. Vì pháp luật về quyền tác giả hiện nay chƣa nêu rõ và chƣa lý giải cụ thể về hành vi sao chép, dẫn đến việc tồn tại những quan điểm khác nhau về sao chép.
Mặt khác, theo quan điểm cá nhân,“sao chép không chỉ là việc tạo ra tác phẩm từ việc chép lại một phần hay toàn bộ nội dung từ tác phẩm ban đầu mà còn là việc tạo ra bản sao của tác phẩm thể hiện dưới dạng vật chất cụ thể”.Khi lý giải khái niệm sao chép, trƣớc hết cần nhấn mạnh sao chép chính là hành vi chép lại tác phẩm. Việc chép lại tác phẩm có thể thực hiện bằng việc chép lại toàn bộ nội dung tác phẩm. Bản chép lại này đƣơng nhiên đƣợc xem là một bản sao chép vi phạm về quyền tác giả. Tuy nhiên, sao chép có thể đƣợc thực hiện khi chép lại một phần tác phẩm.
Trong quá trình sử dụng tác phẩm, chủ thể sử dụng có thể chép lại một câu, một đoạn hoặc một nội dung chính từ tác phẩm đã có. Hành vi chép lại này đƣợc thực hiện tinh vi và khó phát hiện hơn hành vi chép lại toàn bộ nội dung tác phẩm. Vì mục đích cá nhân, chủ thể sử dụng tác phẩm đã chép lại tác phẩm mà không có bất kỳ sự đồng ý nào từ tác giả. Và việc chép lại này đƣơng nhiên đƣợc xác định là hành vi trái pháp luật, vi phạm quyền tác giả.
Ngoài ra, sao chép còn đƣợc hiểu là việc tạo ra bản sao tác phẩm. Tạo ra bản sao tác phẩm có thể đƣợc thực hiện bằng nhiều cách: photocopy, scan, chụp lại tác phẩm… Những hành vi này dễ xác định hơn hành vi chép lại vì những bản sao sẽ đƣợc tạo ra giống tác phẩm ban đầu. Và việc nhận biết tác phẩm bị sao chép sẽ trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, dù đƣợc thực hiện bằng phƣơng pháp chép lại hay tạo ra bản sao, thì vẫn đƣợc xem là hành vi sao chép.
Khi nghiên cứu về hành vi sao chép, không nên chỉ xem sao chép là hành vi tạo ra bản sao của tác phẩm, mà sao chép còn phải đƣợc hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả việc chép lại và việc tạo ra bản sao của tác phẩm trên thực tế.2 Vai trò của Quyền sao chép. Quyền tác giả là một nội dung quan trọng trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Quyền tác giả gồm quyền nhân thân và quyền tài sảncủa tác giả đối với tác phẩm do Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Trang11 Khoa Luật Quốc tế mình sáng tạo.2 Quyền nhân thân là quyền gắn liền với nhân thân của tác giả sáng tạo ra tác phẩm nhƣ: quyền đặt tên tác phẩm, công bố tác phẩm, đứng tên thật hay bút danh lên tác phẩm3… Đây là những quyền riêng biệt gắn liền với cá nhân tác giả sáng tạo ra tác phẩm. Hơn nữa, quyền nhân thân của tác giả là quyền không thể chuyển nhƣợng trừ quyền công bố tác phẩm4.Quyền tài sản gồm những quyền nhƣ: làm tác phẩm phái sinh, biểu diễn tác phẩm trƣớc công chúng, sao chép tác phẩm, phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm5.
Cũng nhƣ tên gọi “quyền tài sản”, những quyền này mang đến những lợi ích về tài sản vật chất cho tác giả sáng tạo tác phẩm hoặc chủ sở hữu quyền. Trong những quyền đó có quyền sao chép tác phẩm. Quyền sao chép là một trong những quyền tài sản cơ bản và quan trọng của tác giả. Có thể lý giải nhận định trên bởi các lý do sau: Một là, quyền sao chép tác phẩm là quyền tài sản có ảnh hƣởng lớn nhất đối với tác giả.
Khi tác giả sáng tạo ra tác phẩm, nhất là đối với các tác phẩm văn học, để giới thiệu và truyền bá những tác phẩm này vào đời sống, tác giả buộc phải tạo ra nhiều bản sao của tác phẩm và truyền những bản sao tác phẩm đến tay ngƣời đọc. Việc tạo ra bản sao của tác phẩm là hành vi độc quyền của tác giả hay chủ sở hữu quyền.Những hành vi sao chép không do chính tác giả thực hiện phải có sự đồng ý của tác giả, nếu không sẽ đƣợc xem là bất hợp pháp, vi phạm quyền tác giả. Do đó, hành vi sao chép tác phẩm luôn tác động trực tiếp đến quyền tác giả của tác giả sáng tạo ra tác phẩm dù hành vi sao chép là hợp pháp hay bất hợp pháp. Thứ hai, quyền sao chép là một trong những quyền tài sản có giá trị kinh tế lớn.
Một bản sao tác phẩm ra đời và đƣợc đƣa vào đời sống xã hội bằng biện pháp thƣơng mại sẽ tạo ra những giá trị vật chất nhất định. Đặc biệt là những tác phẩm văn học thƣờng đƣợc sao chép để tạo ra một số lƣợng lớn bản sao. Và tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ thể đƣơng nhiên đƣợc hƣởng những lợi ích vật chất từ hoạt 2 Điều 18 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, sđbs 2009 3 Điều 19 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, sđbs 2009 4 Khoản 2 Điều 45 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, sđbs 2009 5 Điều 20 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, sđbs 2009 Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Trang12 Khoa Luật Quốc tế động này. Nếu hành vi sao chép trong trƣờng hợp này là bất hợp pháp – không có sự đồng ý của tác giả, thì lợi ích kinh tế của tác giả đã bị xâm hại.
Tác giả tác phẩm không nhận đƣợc những lợi ích đƣơng nhiên do mình tạo ra mà những lợi ích này đã đƣợc chuyển giao sang những chủ thể thực hiện hành vi sao chép bất hợp pháp. Vậy nên, với giá trị kinh tế cao, quyền sao chép tác phẩm là một trong những quyền tài sản quan trọng của tác giả.