Lời mở đầu Công ước quốc tế về quyền trẻ em. 10 nay có khoảng hơn 80 văn kiện quốc tế (Công ước, tuyên ngôn,.) trực tiếp hay gián tiếp quy định hoặc có liên quân đến việc bảo vệ quyền trẻ em. Đầu tiên là Tuyên ngôn Genève về quyền trẻ em năm 1924. Đây là văn kiện quốc tế đầu tiên về quyền trẻ em.
Năm 1924 Hội quốc liên đã chấp thuận thông qua Tuyên ngôn Genève về quyền trẻ em do Hiệp hội quốc tế về quỹ cứu trợ trẻ em soạn thảo trên cơ sở Hiến chương về quyền trẻ em năm 1923. Tuyên ngôn xác định: Loài người phải dành cho trẻ em những gì tốt đẹp nhất và đề ra 5 điểm về các quyền của trẻ em: “a) Trẻ em phải được tạo điều kiện để phát triển bình thường về thể chất và tinh thần; b) Trẻ em đói phải được ăn; ốm đau phải được chữa bệnh; chậm phát triển phải được nâng đỡ; trẻ em hư phải được dìu dắt; mồ côi và không người thừa nhận, phải được thu nhận, cưu mang; c) Trẻ em phải được ưu tiên cứu giúp khi xảy ra hoạn nạn; d) Trẻ em phải được tạo khả năng để có công ăn việc làm và phải được bảo vệ chống mọi hình thức bóc lột; đ) Trẻ em phải được nuôi dạy với tinh thần được phát huy những năng lực tốt nhất nhằm phục vụ loài người.” Vì là văn kiện quốc tế đầu tiên về quyền trẻ em nên còn những hạn chế về phạm vi, nội dung và tính chất. Các quyền trẻ em quy định trong Tuyên ngôn chủ yếu nhằm vào trẻ em của những nước phát triển, phủ nhận quyền sống của các dân tộc thuộc địa bị áp bức, bóc lột. Thứ hai là Tuyên ngôn về quyền trẻ em được Liên Hợp Quốc thông qua ngày 20/11/1959.
11 Tuyên ngôn về quyền trẻ em do Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1959 đã đưa ra những nguyên tắc tiến bộ hơn với phương châm loài người phải dành cho trẻ em những gì tốt đẹp nhất mà mình có; các quyền trẻ em được mở rộng hơn, cụ thể trẻ em có quyền: 1. Được thương yêu, hiểu biết; 2. Được nuôi nấng, chữa bệnh thích đáng; 3. Học tập không mất tiền; 4.
Vui chơi, giải trí; 5. Có họ tên, có quốc tịch; 6. Chăm sóc đặc biệt nếu có những nhược điểm về thể chất, tinh thần; 7. Ưu tiên cứu giúp khi xảy ra hoạn nạn; 8.
Đào tạo để trở thành người có ích cho xã hôi; 9. Được phát triển năng khiếu; 10. Nuôi dạy trong tinh thần hoà bình và hữu nghị quốc tế; Trẻ em được hưởng các quyền trên đây không phân biệt mầu da, giới tính, tín ngưỡng, quốc tịch hay nguồn gốc xã hội. Tuyên ngôn về quyền trẻ em năm 1959 chỉ mang tính chất khuyến nghị nên chỉ có giá trị về mặt chính trị và đạo đức, không có giá trị pháp lý bắt buộc.
Thứ ba, Công ước về quyền trẻ em năm 1989 (Liên Hợp Quốc thông qua 20/11/1989, có hiệu lực từ 2/9/1990. Năm 1978 Liên Hợp Quốc thông qua Nghị quyết về việc soạn thảo Công ước về quyền trẻ em trên cơ sở Tuyên ngôn về quyền trẻ em năm 1959 và hai Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội và dân sự, 12 chính trị. Năm 1979, Tổ công tác của Liên Hợp Quốc gồm đại diện của 43 nước thành viên Uỷ ban về quyền con người, một số tổ chức chuyên môn của Liên Hợp Quốc như Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Cao uỷ tị nạn Liên Hợp Quốc (UNHCR) và 50 tổ chức phi chính phủ. tham gia trực tiếp soạn thảo Công ước.
Công ước về quyền trẻ em năm 1989 là Công ước đầu tiên đề cập toàn diện các quyền của trẻ em theo hướng tiến bộ, thừa nhận mọi trẻ em đều có quyền được sống, được phát triển, được tham gia và được chăm sóc, bảo vệ và giúp đỡ đặc biệt. Công ước là văn bản có tính chất ràng buộc pháp lý đối với các quốc gia thành viên trong việc bảo vệ và thực hiện quyền trẻ em trên toàn thế giới. Ngoài ra, còn có một số Công ước, văn kiện quốc tế khác có đề cập đến từng lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em như: - Công ước về trấn áp buôn bán người và bóc lột mại dâm (Liên Hợp Quốc thông qua 21/3/1950 và có hiệu lực từ 25/7/1951). - Quy tắc tối thiểu của Liên Hợp Quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 29/11/1985 (sau đây gọi tắt là Quy tắc Bắc Kinh) - Công ước La hay về bảo vệ trẻ em và hợp tác giữa các nước về con nuôi nước ngoài có hiệu lực từ 01/5/1995.
- Nghị định thư không bắt buộc bổ sung cho Công ước về quyền trẻ em, buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em (Liên Hợp Quốc thông qua 25/5/2000, Việt Nam phê chuẩn ngày 20/12/2001). 13 - Công ước 182 về cấm và hành động ngay lập tức để xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (Tổ chức lao động quốc tế ILO thông qua 17/6/1999) - Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Liên hợp quốc thông qua ngày 15/11/2000. Việt nam đã ký Công ước này ngày 13/12/2000) và Nghị định thư bổ sung cho Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em (Liên hợp quốc thông qua ngày 15/11/2000). - Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt, đối xử đối với phụ nữ (Liên hợp quốc thông qua ngày 18/2/1979, có hiệu lực từ 3/9/1981).
Như vậy, thông qua các văn kiện quốc tế, tác giả có những kết luận về quyền của trẻ em như sau: Thứ nhất, hai nguyên tắc cốt lõi được nhấn mạnh theo các điều ước quốc tế liên quan đến bảo vệ quyền trẻ em là “không phân biệt đối xử với trẻ em” và “vì lợi ích tốt nhất của trẻ em”. Thứ hai, bên cạnh những quy định đặc thù riêng cho trẻ em thì trẻ em cũng được hưởng đầy đủ các quyền của một con người. Thứ ba, luật pháp quốc tế đã ghi nhận và bảo vệ quyền trẻ em mà không có bất kì sự phân biệt nào trên cơ sở xu hướng tính dục và bản dạng giới của cha mẹ của trẻ. Quyền của trẻ em trong hệ thống pháp luật Việt Nam “Trẻ em hôm nay - Thế giới ngày mai” - Nhận thức rõ vai trò đặc biệt của trẻ em đối với gia đình và xã hội nên việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em được Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm, coi đây là vấn đề có tính chiến lược, lâu dài nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước trong tương lai.
14 Tính đến thời điểm hiện nay, CRC (Công ước của Liên Hợp Quốc vè quyền trẻ em) là văn kiện quốc tế có giá trị pháp lý cao nhất về quyền con người của trẻ em. Công ước được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 và Việt Nam đã phê chuẩn Công ước ngày 20/2/1990, là nước đầu tiên ở Châu Á và nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước. Ngay sau khi phê chuẩn CRC, Việt Nam đã tiến hành đưa tinh thần và nội dung của Công ước trong chiến lược phát triển luật pháp quốc gia, đặc biệt là phát triển hệ thống pháp luật về quyền trẻ em. Hiến pháp 2013 (Điều 37, Chương II) quy định “Trẻ em có quyền được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em.
Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”. Hiến pháp 2013 là tiền đề, là nền tảng pháp lý để có những cải tiến mạnh mẽ, đột phá trong lĩnh vực chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em. Trên tinh thần và các quy định về quyền trẻ em của Hiến pháp 2013 và CRC, Luật Trẻ em 2016 gồm 7 Chương và 106 Điều, trong đó quy định 25 quyền dành cho trẻ em. Luật Trẻ em 2016 từ Điều 23 đến Điều 32 quy định về trách nhiệm của gia đình đối với sự phát triển của trẻ em, coi gia đình là người trước tiên chịu trách nhiệm đối với trẻ em về: Đăng ký khai sinh; chăm sóc, nuôi dưỡng, dành điều kiện tốt nhất cho trẻ em; đảm bảo cho trẻ em sống chung với cha mẹ; bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em;… Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bên cạnh Hiến pháp 2013 và Luật Trẻ em 2016, còn có nhiều văn bản pháp luật khác cũng chứa đựng những quy định trực tiếp hoặc gián tiếp về quyền trẻ em ở nhiều lĩnh vực (hình sự, giáo dục, y tế, lao động, bảo hiểm, hôn nhân và gia đình…).
15 Như vậy, có thể thấy quyền của trẻ em là thiêng liêng và được pháp luật bảo vệ và hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành không có quy định khác biệt về quyền của trẻ em là LGBT và quyền của trẻ em sống trong gia đình LGBT. Quyền của LGBT trong pháp luật quốc tế và trong hệ thống pháp luật của Việt Nam 1. Quyền của LGBT trong pháp luật quốc tế Các văn kiện quốc tế liên quan đến quyền và bảo vệ quyền của LGBT trước hết phải kể đến Tuyên ngôn thế gio Quyền con người là những quyền gắn với một con người, không phụ thuộc vào quốc tịch, nơi sinh sống, giới tính, dân tộc, màu da, tôn giáo, ngôn ngữ, hay bất cứ đặc điểm nào khác. Mọi tự nhiên nhân đều bình đẳng trong việc có quyền con người mà không có phân biệt đối xử.
Những quyền này có mối quan hệ tương quan, phụ thuộc lẫn nhau và không thể tách rời4. Hai quyền cơ bản của con người được đề cập trong các điều ước quốc tế trước tiên là quyền không bị phân biệt đối xử và quyền bình đẳng. Đây vừa là quyền con người, vừa là những nguyên tắc nền tảng của Luật Nhân quyền quốc tế. Xuất phát từ hai nguyên tắc nền tảng là “không phân biệt đối xử” và “bình đẳng” trong Luật Nhân quyền quốc tế, có thể thấy rằng mọi người với mọi xu hướng tính dục và bản dạng giới khác nhau đều có tư cách là một con người trước pháp luật và có đầy đủ các quyền của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống, trong đó có các quyền như quyền kết hôn, quyền lập gia đình, quyền nuôi con, quyền nhận con nuôi.
4 United Nation Human Rights, What are human rights, Xem http://www.org/en/issues/Pages/WhatareHumanRights.aspx, truy cập ngày 07/4/2022.