Quyền hiến bộ phận cơ thể theo pháp luật Việt Nam hiện hành

Luận văn thạc sĩ VNU phân tích quyền hiến bộ phận cơ thể theo pháp luật Việt Nam hiện hành, cung cấp cái nhìn sâu sắc về vấn đề này.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

109
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI

1.1. Quyền con người

1.2. Bộ phận cơ thể người

1.3. Hiến bộ phận cơ thể người

1.4. Nguyên tắc trong vấn đề hiến bộ phận cơ thể người

1.4.1. Nguyên tắc tự nguyện đối với người hiến, người được ghép

1.4.2. Nguyên tắc vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học

1.4.3. Nguyên tắc không nhằm mục đích thương mại

1.4.4. Nguyên tắc giữ bí mật về các thông tin có liên quan đến người hiến, người được ghép, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác

1.4.5. Tôn trọng cơ thể con người

1.4.6. Quyền được thông tin của người hiến

1.5. Tiến trình phát triển những quy định của pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ thể

1.5.1. Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989. Điều lệ khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng ban hành kèm theo Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng số 23-HĐBT ngày 24 tháng 1 năm 1991

1.5.2. Bộ luật dân sự năm 1995

1.5.3. Bộ luật dân sự năm 2005

1.5.4. Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác 2006

1.6. Quyền hiến bộ phận cơ thể ở một số nước trên thế giới

1.6.1. Pháp luật hiến bộ phận cơ thể ở các nước Châu Âu

1.6.2. Pháp luật hiến bộ phận cơ thể ở các nước Châu Á

1.6.3. Pháp luật hiến bộ phận cơ thể ở Châu Mỹ

1.6.4. Pháp luật hiến bộ phận cơ thể ở Châu Đại Dương

2. CHƯƠNG 2: HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI THEO LUẬT THỰC ĐỊNH CỦA VIỆT NAM. CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC HỖ TRỢ VIỆC HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI

2.1. Ngân hàng mô/tế bào

2.2. Trung tâm điều phối quốc gia

2.3. Nội dung quyền hiến bộ phận cơ thể người

2.3.1. Hiến bộ phận cơ thể khi còn sống

2.3.2. Hiến bộ phận cơ thể sau khi chết

2.4. Hậu quả của việc hiến bộ phận cơ thể người

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI

3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về hiến bộ phận cơ thể người

3.1.1. Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hiến bộ phận cơ thể người

3.1.2. Tình hình và nhu cầu ghép bộ phận cơ thể người ở Việt Nam

3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hiến bộ phận cơ thể người

3.2.1. Về chính sách chung

3.2.2. Về các giải pháp cụ thể

Danh mục tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng quan về quyền hiến bộ phận cơ thể theo pháp luật Việt Nam

Quyền hiến bộ phận cơ thể là một vấn đề quan trọng trong lĩnh vực y học và pháp luật. Tại Việt Nam, quyền này được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của cá nhân. Quyền hiến bộ phận cơ thể không chỉ thể hiện sự tự do của cá nhân mà còn góp phần vào sự phát triển của y học. Việc hiến bộ phận cơ thể có thể diễn ra khi còn sống hoặc sau khi chết, với mục đích chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học.

1.1. Khái niệm quyền hiến bộ phận cơ thể

Quyền hiến bộ phận cơ thể được hiểu là quyền của cá nhân trong việc tự nguyện cho một phần cơ thể của mình. Điều này không chỉ thể hiện quyền tự định đoạt mà còn là một hành động nhân đạo, mang lại cơ hội sống cho người khác.

1.2. Lịch sử phát triển quyền hiến bộ phận cơ thể tại Việt Nam

Quyền hiến bộ phận cơ thể đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật từ Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 đến Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người năm 2006. Sự phát triển này phản ánh nhu cầu ngày càng cao trong xã hội về việc hiến tặng bộ phận cơ thể.

II. Những thách thức trong việc thực hiện quyền hiến bộ phận cơ thể

Mặc dù quyền hiến bộ phận cơ thể đã được pháp luật công nhận, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc thực hiện. Những vấn đề như sự thiếu hiểu biết của người dân, tâm lý e ngại và các quy định pháp lý chưa hoàn thiện là những rào cản lớn. Đặc biệt, việc thiếu thông tin và sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng cũng làm giảm hiệu quả của hoạt động hiến tặng.

2.1. Thiếu hiểu biết về quyền hiến bộ phận cơ thể

Nhiều người dân vẫn chưa hiểu rõ về quyền hiến bộ phận cơ thể, dẫn đến việc không dám tham gia vào hoạt động hiến tặng. Việc tuyên truyền và giáo dục về quyền này là rất cần thiết.

2.2. Tâm lý e ngại trong việc hiến bộ phận cơ thể

Tâm lý e ngại và lo lắng về việc hiến bộ phận cơ thể cũng là một trong những nguyên nhân khiến nhiều người không dám tham gia. Cần có các chương trình tư vấn và hỗ trợ tâm lý để khuyến khích người dân.

III. Phương pháp và quy trình hiến bộ phận cơ thể theo pháp luật

Pháp luật Việt Nam quy định rõ ràng về quy trình hiến bộ phận cơ thể, bao gồm các bước từ việc đăng ký hiến tặng đến việc thực hiện hiến tặng. Quy trình này nhằm đảm bảo quyền lợi của người hiến và người nhận, đồng thời bảo vệ tính nhân đạo trong hoạt động y tế.

3.1. Quy trình đăng ký hiến bộ phận cơ thể

Người muốn hiến bộ phận cơ thể cần thực hiện các bước đăng ký theo quy định của pháp luật. Điều này bao gồm việc điền vào mẫu đơn và cung cấp thông tin cá nhân cần thiết.

3.2. Thực hiện hiến bộ phận cơ thể

Sau khi hoàn tất quy trình đăng ký, người hiến sẽ được tư vấn và thực hiện các thủ tục y tế cần thiết để đảm bảo an toàn cho cả người hiến và người nhận.

IV. Ứng dụng thực tiễn của quyền hiến bộ phận cơ thể tại Việt Nam

Quyền hiến bộ phận cơ thể đã được áp dụng rộng rãi tại Việt Nam, góp phần cứu sống nhiều bệnh nhân. Các ngân hàng mô và trung tâm điều phối quốc gia đã hoạt động hiệu quả trong việc kết nối người hiến và người nhận. Tuy nhiên, vẫn cần cải thiện hơn nữa để nâng cao hiệu quả của hoạt động này.

4.1. Vai trò của ngân hàng mô trong việc hiến tặng

Ngân hàng mô đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập, bảo quản và phân phối các bộ phận cơ thể. Điều này giúp đảm bảo nguồn cung cấp cho các bệnh nhân cần ghép tạng.

4.2. Kết quả từ hoạt động hiến bộ phận cơ thể

Nhiều ca ghép tạng thành công đã diễn ra tại Việt Nam, nhờ vào sự hỗ trợ của các chương trình hiến tặng. Điều này không chỉ cứu sống bệnh nhân mà còn nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền hiến bộ phận cơ thể.

V. Kết luận và hướng phát triển quyền hiến bộ phận cơ thể

Quyền hiến bộ phận cơ thể là một vấn đề quan trọng và cần thiết trong xã hội hiện đại. Để phát triển quyền này, cần có sự hỗ trợ từ pháp luật, các cơ quan chức năng và cộng đồng. Việc nâng cao nhận thức và cải thiện quy trình hiến tặng sẽ giúp tăng cường hiệu quả của hoạt động này.

5.1. Đề xuất cải thiện quy định pháp luật

Cần xem xét và điều chỉnh các quy định pháp luật để phù hợp hơn với thực tiễn và nhu cầu của xã hội. Điều này sẽ giúp bảo vệ quyền lợi của người hiến và người nhận.

5.2. Tăng cường tuyên truyền về quyền hiến bộ phận cơ thể

Các chương trình tuyên truyền và giáo dục về quyền hiến bộ phận cơ thể cần được triển khai rộng rãi để nâng cao nhận thức của cộng đồng, khuyến khích người dân tham gia vào hoạt động hiến tặng.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls quyền hiến bộ phận cơ thể theo pháp luật việt nam hiện hành

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƢỜI 1. Quyền con ngƣời Quyền con ngƣời là những quyền tự nhiên, vốn có khách quan của con ngƣời đƣợc ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Ở Việt Nam, quyền con ngƣời, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân luôn đƣợc tôn trọng và bảo đảm. Các quyền con ngƣời, quyền của cá nhân trong đó có quyền nhân thân ngày càng đƣợc tôn trọng và bảo vệ bằng nhiều hình thức, biện pháp khác nhau.

Đáp ứng những yêu cầu khách quan những mong muốn của các cá nhân trong xã hội, pháp luật hiện hành ngày càng ghi nhận và bảo vệ rộng rãi các quyền nhân thân của cá nhân, trong đó có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể ngƣời. Con ngƣời khi sinh ra đã có quyền sống, quyền tự do, quyền mƣu cầu hạnh phúc… Con ngƣời có quyền quyết định những gì thuộc về mình và pháp luật luôn tôn trọng quyền tự định đoạt ý chí của cá nhân đối với thân thể của mình. Quyền hiến mô, bộ phận cơ thể ngƣời là quyền của cá nhân nhằm hiến mô, bộ phận cơ thể của mình nhằm mục đích chữa bệnh cho ngƣời khác hoặc phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học. Quyền hiến mô, bộ phận cơ thể ngƣời là quyền con ngƣời và đƣợc pháp luật Việt Nam cũng nhƣ pháp luật nhiều nƣớc trên thế giới ghi nhận và bảo vệ.

Bộ phận cơ thể ngƣời Hiến BPCT ngƣời là một khái niệm không còn xa lạ với nhiều quốc gia trên thế giới nhƣng lại khá mới với ngƣời dân Việt Nam. Theo quan điểm của một số nƣớc trên thế giới nhƣ Cộng hòa Pháp thì trong pháp luật y sinh 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cộng hòa Pháp ban hành ngày 30/1/2003 đã quy định BPCT ngƣời là: Một phần của cơ thể người, riêng biệt và có khả năng sống, được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau và có khả năng duy trì cấu trúc, sự phân bố mạch và thực hiện các chức năng sinh lý một cách hoàn toàn độc lập. Còn thuật ngữ "bộ phận" đƣợc Từ điển tiếng Việt của Việt Nam giải thích "Là từng phần của một chỉnh thể". BPCT ngƣời là cụm từ đƣợc sử dụng tƣơng đối phổ biến trong đời sống với một cách hiểu đơn nhất theo kiểu định nghĩa thống kê: "Bộ phận cơ thể ngƣời bao gồm chân, tay, máu, xƣơng, gan, tụy, mật…".

Khái niệm này trở lên phức tạp từ khi có sự xuất hiện của BLDS năm 2005 lần đầu tiên ghi nhận quyền hiến và nhận BPCT của cá nhân với tƣ cách là quyền nhân thân không thể phủ nhận mà không hề giải thích thuật ngữ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật hiến, lấy ghép mô, BPCT ngƣời và hiến, lấy xác thì BPCT ngƣời đƣợc hiểu là: "Một phần của cơ thể được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định" [29]. Mặt khác, PGS. Phùng Trung Tập - Giảng viên môn Luật Dân sự của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội cũng thống nhất với cách hiểu trên khi cho rằng: "Bộ phận cơ thể người là những thành tố cấu thành cơ thể sống hoàn chỉnh và nó thực hiện chức năng trao đổi chất giúp cơ thể tồn tại và phát triển bình thường theo quy luật tự nhiên" [30, tr.

Nhƣ vậy, BPCT ngƣời đƣợc hiểu là: Một thể thống nhất được hình thành từ các loại mô khác nhau tạo thành một cơ thể sống hoàn chỉnh mà mỗi một BPCT thực hiện một chức năng trao đổi chất khác nhau. Vậy thì mô là gì? Theo thuật ngữ pháp lý thì "mô" là tập hợp các tế bào cùng một loại hay nhiều loại khác nhau để thực hiện các chức năng nhất định của cơ thể ngƣời. Tuy nhiên, theo cách hiểu trong sinh học thì "mô" là một hệ thống các tế bào và chất bào có cùng nguồn gốc, cấu tạo và chức năng, hình thành trong quá trình tiến hóa sinh học và xuất hiện ở một cơ chế đa bào do quá trình biệt hóa. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bộ phận cơ thể con ngƣời có hai dạng là BPCT tái sinh và BPCT không tái sinh.

Đối với mỗi dạng BPCT khi hiến cho ngƣời khác đƣợc pháp luật quy định khác nhau. Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật hiến, lấy, ghép mô, BPCT ngƣời và hiến, lấy xác thì BPCT không tái sinh là bộ phận sau khi lấy ra khỏi cơ thể con ngƣời không thể sản sinh hoặc phát triển thêm một bộ phận khác thay thế bộ phận đã lấy đi nhƣ: Thận, phổi, tim… Khác với BPCT không tái sinh thì BPCT tái sinh là những bộ phận mà sau khi lấy ra khỏi cơ thể vẫn sản sinh hoặc phát triển thêm bộ phận khác thay thế. Nhƣ vậy, dù là BPCT tái sinh hay không tái sinh thì vẫn có thể đƣợc tách ra khỏi cơ thể của một cá nhân để ghép vào BPCT của một cá nhân khác để thực hiện nhiều mục đích khác nhau. Tuy nhiên, Luật hiến, lấy, ghép mô, BPCT ngƣời và hiến, lấy xác của Việt Nam năm 2006 chỉ quy định về việc hiến, lấy, ghép mô, BPCT ngƣời và hiến, lấy xác còn việc truyền máu, ghép tủy không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này.

Một vấn đề đƣợc đặt ra là BPCT ngƣời có bao gồm cả những bộ phận bị cắt bỏ ra khỏi cơ thể do không cần thiết (nhau thai) hoặc bị nhiễm bệnh (khối u) gây hại cho sức khỏe con ngƣời hay không? Có ý kiến cho rằng những bộ phận này vẫn đƣợc coi là BPCT vì nó vẫn xuất phát từ cơ thể của một ngƣời cụ thể, trƣớc khi bị cắt bỏ nó vẫn là thành tố cấu tạo nên cơ thể đó về mặt khoa học muốn cắt bỏ nó vẫn phải thực hiện các thủ thuật y học để tác động vào. Theo tác giả để đƣợc coi là một BPCT và là đối tƣợng của quyền hiến BPCT thì bộ phận đó phải có khả năng thực hiện đƣợc các chức năng sinh lý bình thƣờng vốn có của nó. Trong khi những bộ phận nói trên không có khả năng thực hiện chức năng sinh lý, thậm chí cần phải cắt bỏ nó thì mới có thể duy trì đƣợc sự sống cho cơ thể. Nhƣ vậy, BPCT ngƣời đƣợc hiểu là một thể thống nhất đƣợc hình thành từ các loại mô khác nhau tạo thành một cơ thể sống hoàn chỉnh mà mỗi một BPCT thực hiện một chức năng trao đổi chất khác nhau.

9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hiến bộ phận cơ thể ngƣời Theo từ điển, "hiến" là một động từ chỉ "hành động dâng hay tự nguyện cho của một chủ thể", là hành vi mang tính chủ động "cho cái quý giá của mình một cách tự nguyện, trang trọng". Nhƣ vậy, hiểu một cách đơn thuần thì hiến BPCT ngƣời có nghĩa là cá nhân tự nguyện tặng/cho một phần cơ thể của mình khi còn sống hoặc sau khi chết vì mục đích chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học và hoàn toàn vô điều kiện. Theo quy định của BLDS năm 2005 thì "quyền hiến bộ phận cơ thể ngƣời" là quyền nhân thân của cá nhân, thể hiện sự tự định đoạt của họ đối với BPCT của mình.

Đây là một quyền năng mới đƣợc bổ sung vào BLDS năm 2005 do nhu cầu hiến, lấy ghép BPCT ngày càng tăng. Tuy nhiên, đối tƣợng đƣợc đem tặng này lại rất đặc biệt - BPCT- món quà sự sống cho nên kéo theo đó là cả một hệ thống các quy chế pháp lý cho ta có cách hiểu về cụm từ trên phức tạp hơn. Dƣới góc độ pháp luật, hiến BPCT ngƣời đƣợc hiểu "là việc cá nhân tự nguyện hiến… bộ phận cơ thể của mình khi còn sống hoặc sau khi chết". Mặc dù định nghĩa này không thực sự rõ ràng khi sử dụng mệnh đề: "hiến…là hiến" nhƣng nó đã chỉ ra một điểm hết sức quan trọng đó là: nguồn gốc của đối tƣợng hiến BPCT phải xuất phát từ chính cơ thể của chủ thể thực hiện hành vi hay hành vi, hiến phải là hành vi trực tiếp (tự mình thực hiện, không đại diện) của cá nhân, ngay cả trƣờng hợp không có thẻ đăng ký hiến sau khi chết phải có sự đồng ý của cha, mẹ/ngƣời giám hộ/vợ, chồng/đại diện các con đã thành niên của họ.

Đây là trƣờng hợp sự đồng ý của ngƣời thân đƣợc hiểu là chứng cứ chứng minh ngƣời chết đã không từ chối và có thể đồng ý hiến trƣớc đó. Ngoài ra, định nghĩa trên còn đặc biệt nhấn mạnh tính tự nguyện của chủ thể thực hiện hành vi để nêu bật lên tính nhân văn cao đẹp của nó cho dù bản thân từ "hiến" đã bao hàm sự tự nguyện. Nhƣ vậy, có thể hiểu: hiến BPCT người là hành vi trực tiếp, tự nguyện của cá nhân theo quy định của pháp luật nhằm tặng/cho một phần cơ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể của chính mình vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học và hoàn toàn vô điều kiện. Dƣới góc độ pháp lý, bản chất của hiến BPCT không phải là hợp đồng mà là hành vi đơn phƣơng của chủ thể hiến.

Thực vậy, nó thể hiện duy nhất ý chí tự nguyện của chủ thể hiến mà không phải là sự thỏa thuận giữa các bên chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự trong hoạt động hiến BPCT. Nó không thỏa mãn khái niệm hợp đồng dân sự đƣợc quy định tại Điều 388 của BLDS năm 2005. Khi ngƣời hiến ký tên vào đơn đăng ký hiến và cơ sở y tế hoàn tất thủ tục đăng ký cho ngƣời hiến không phải là hợp đồng tặng cho đƣợc ký kết. Nó chỉ đơn giản là một thủ tục ghi nhận ý chí tự nguyện của ngƣời hiến, còn cơ sở y tế chỉ là một chỉ là một chủ thể có nhiệm vụ trợ giúp ngƣời hiến thực hiện quyền của họ (tiếp nhận, đăng ký đơn hiến; kiểm tra, tƣ vấn sức khỏe; thực hiện lấy, xử lý an toàn và phân phối BPCT) mà thôi.

Ở đây, chủ thể nhận không cần phải xác định cụ thể, thậm chí một số trƣờng hợp không thể xác định (hầu hết ở hiến vì mục đích ghép trị liệu). Việc hiến và nhận về mặt pháp lý hoàn toàn độc lập với nhau, không có mối liên hệ quyền, nghĩa vụ giữa ngƣời hiến và nhận (cá nhân nhận ghép trị liệu, cơ sở y tế, cơ sở lƣu trữ mô, tế bào), chủ thể nhận sẽ chính thức đƣợc xác định trong khâu phân phối. Vì thế không trách nhiệm nào phát sinh giữa họ khi hiến - nhận.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quyền hiến bộ phận cơ thể theo pháp luật Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy định pháp lý liên quan đến việc hiến tặng bộ phận cơ thể trong bối cảnh pháp luật Việt Nam. Tài liệu này nêu rõ các quyền và nghĩa vụ của cá nhân khi tham gia vào việc hiến tặng, cũng như các quy trình và điều kiện cần thiết để thực hiện việc hiến tặng một cách hợp pháp. Đặc biệt, nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi của người hiến tặng và đảm bảo tính minh bạch trong các hoạt động liên quan.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều lợi ích từ tài liệu này, bao gồm việc hiểu rõ hơn về quyền lợi của mình, cũng như các quy định pháp lý có liên quan. Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Khóa luận tốt nghiệp quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân theo bộ luật dân sự 2005, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết hơn về quyền hiến tặng bộ phận cơ thể theo Bộ luật Dân sự 2005. Tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh pháp lý và thực tiễn liên quan đến quyền hiến tặng.