Luận văn thạc sĩ vnu ls quyền của người bị hại và người làm chứng trong luật nhân quyền quốc tế và luật hình sự việt nam

Luận văn thạc sĩ VNU LS phân tích quyền của người bị hại và người làm chứng trong luật nhân quyền quốc tế và luật hình sự Việt Nam.

Chuyên ngành

Pháp Luật Về Quyền Con Ngƣời

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học

2015

102
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI VÀ NGƯỜI LÀM CHỨNG TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1. Khái niệm người bị hại

1.2. Khái niệm người bị hại nói chung

1.3. Người bị hại trong vụ án hình sự

1.4. Khái niệm người làm chứng

1.5. Nội dung của quyền của người bị hại và người làm chứng trong vụ án hình sự

1.6. Nội dung quyền của người bị hại trong vụ án hình sự

1.7. Nội dung quyền của người làm chứng trong vụ án hình sự

1.8. Đặc điểm các quyền của người bị hại, người làm chứng

1.9. Các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền của người bị hại, người làm chứng

1.9.1. Bảo đảm về chính trị

1.9.2. Bảo đảm về pháp lý

1.9.3. Bảo đảm về văn hóa

1.9.4. Bảo đảm về kinh tế

1.10. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI VÀ NGƯỜI LÀM CHỨNG TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

2.1. Quyền của người bị hại và người làm chứng trong pháp luật quốc tế

2.2. Quyền của người bị hại trong pháp luật quốc tế

2.3. Quyền của người làm chứng trong pháp luật quốc tế

2.4. Quyền của người bị hại và người làm chứng trong pháp luật hình sự Việt Nam

2.5. Quyền của người bị hại trong pháp luật hình sự Việt Nam

2.6. Quyền của người làm chứng trong pháp luật hình sự Việt Nam

2.7. Kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI VÀ NGƯỜI LÀM CHỨNG TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

3.1. Các quan điểm về việc thúc đẩy bảo vệ quyền của người bị hại và người làm chứng trong vụ án hình sự ở nước ta hiện nay

3.2. Thúc đẩy quyền của người bị hại và người làm chứng cần dựa trên phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người

3.3. Thúc đẩy quyền của người bị hại và người làm chứng cần dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan

3.4. Cần hoàn thiện pháp luật về quyền của người bị hại và người làm chứng, bảo đảm tính toàn diện, thống nhất của hệ thống pháp luật

3.5. Cần xác định rõ bảo vệ quyền của người bị hại, người làm chứng trước hết là trách nhiệm của Nhà nước

3.6. Cần xác định rõ bảo vệ quyền của người bị hại, người làm chứng không chỉ là vấn đề nhân quyền mà còn là vấn đề cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền

3.7. Các giải pháp thúc đẩy quyền của người bị hại và người làm chứng trong vụ án hình sự

3.7.1. Các giải pháp thúc đẩy quyền của người bị hại

3.7.2. Các giải pháp thúc đẩy quyền của người làm chứng

3.7.3. Các giải pháp chung thúc đẩy quyền của người bị hại và người làm chứng

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về quyền của người bị hại và người làm chứng trong luật hình sự Việt Nam

Quyền của người bị hại và người làm chứng trong luật hình sự Việt Nam là một vấn đề quan trọng, liên quan đến việc bảo vệ quyền con người trong quá trình tố tụng. Những quyền này không chỉ đảm bảo sự công bằng trong xét xử mà còn góp phần nâng cao hiệu quả của công tác điều tra, truy tố và xét xử. Trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay, việc bảo vệ quyền lợi của người bị hại và người làm chứng càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

1.1. Khái niệm và vai trò của người bị hại trong vụ án hình sự

Người bị hại là cá nhân hoặc tổ chức chịu thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Họ đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin, chứng cứ cho cơ quan điều tra. Việc bảo vệ quyền lợi của họ không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là nghĩa vụ của toàn xã hội.

1.2. Khái niệm và vai trò của người làm chứng trong vụ án hình sự

Người làm chứng là những cá nhân có thông tin liên quan đến vụ án. Họ có trách nhiệm cung cấp lời khai trung thực, giúp cơ quan chức năng làm rõ sự thật. Quyền lợi của người làm chứng cũng cần được bảo vệ để họ có thể tham gia tố tụng một cách an toàn và hiệu quả.

II. Vấn đề và thách thức trong việc bảo vệ quyền của người bị hại và người làm chứng

Mặc dù pháp luật đã quy định rõ ràng về quyền của người bị hại và người làm chứng, nhưng thực tế vẫn còn nhiều thách thức trong việc thực thi. Nhiều người bị hại và người làm chứng vẫn e ngại khi tham gia tố tụng do lo sợ bị trả thù hoặc không được bảo vệ đầy đủ.

2.1. Những rào cản trong việc thực thi quyền của người bị hại

Nhiều người bị hại không dám tố cáo tội phạm do lo ngại về an toàn cá nhân. Hệ thống pháp luật hiện hành chưa đủ mạnh để bảo vệ họ khỏi những đe dọa từ tội phạm.

2.2. Những khó khăn trong việc bảo vệ người làm chứng

Người làm chứng thường gặp khó khăn trong việc cung cấp thông tin do sợ bị trả thù. Hệ thống bảo vệ người làm chứng còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.

III. Phương pháp bảo vệ quyền của người bị hại và người làm chứng hiệu quả

Để bảo vệ quyền của người bị hại và người làm chứng, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường các biện pháp bảo vệ là rất cần thiết.

3.1. Cải cách pháp luật về quyền của người bị hại

Cần hoàn thiện các quy định pháp luật để bảo vệ quyền lợi của người bị hại, đảm bảo họ được bồi thường thiệt hại và bảo vệ an toàn cá nhân.

3.2. Tăng cường bảo vệ người làm chứng trong tố tụng hình sự

Cần xây dựng các cơ chế bảo vệ người làm chứng, bao gồm việc đảm bảo an toàn cho họ trong quá trình tham gia tố tụng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về quyền của người bị hại và người làm chứng

Nghiên cứu về quyền của người bị hại và người làm chứng đã chỉ ra rằng việc bảo vệ quyền lợi của họ không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là nghĩa vụ của toàn xã hội. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc bảo vệ quyền lợi này có thể nâng cao hiệu quả của công tác điều tra và xét xử.

4.1. Kết quả nghiên cứu về quyền của người bị hại

Nghiên cứu cho thấy rằng việc bảo vệ quyền của người bị hại có thể giúp họ phục hồi sau thiệt hại và tạo điều kiện cho họ tham gia vào quá trình tố tụng.

4.2. Kết quả nghiên cứu về quyền của người làm chứng

Việc bảo vệ quyền của người làm chứng không chỉ giúp họ an tâm khi tham gia tố tụng mà còn góp phần làm rõ sự thật trong vụ án.

V. Kết luận và tương lai của quyền của người bị hại và người làm chứng trong luật hình sự Việt Nam

Việc bảo vệ quyền của người bị hại và người làm chứng là một vấn đề quan trọng trong việc thực hiện quyền con người tại Việt Nam. Tương lai của quyền này phụ thuộc vào sự cải cách và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

5.1. Tương lai của quyền của người bị hại

Cần có những chính sách và biện pháp cụ thể để bảo vệ quyền lợi của người bị hại, đảm bảo họ được bồi thường và bảo vệ an toàn.

5.2. Tương lai của quyền của người làm chứng

Cần xây dựng một hệ thống bảo vệ người làm chứng hiệu quả, giúp họ an tâm khi tham gia tố tụng và cung cấp thông tin.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls quyền của người bị hại và người làm chứng trong luật nhân quyền quốc tế và luật hình sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI BỊ HẠI VÀ NGƢỜI LÀM CHỨNG TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm ngƣời bị hại 1. Khái niệm người bị hại nói chung Người bị hại nói chung là người bị thiệt hại do sự tác động tiêu cực của sự việc, hành vi hoặc bất kỳ sự tác động nào. Theo cách hiểu này, khái niệm người bị hại đồng nghĩa với khái niệm nạn nhân, và dùng để chỉ cả cá nhân (con người) và tổ chức – những đối tượng phải gánh chịu thiệt hại từ bên ngoài đưa đến Thuật ngữ “nạn nhân” được sử dụng để miêu tả những người bị thiệt hại, người bị thiệt hại.

Theo từ điển tiếng Việt, nạn nhân được hiểu là: “Người bị tai nạn” hoặc "Người, tổ chức gánh chịu hậu quả từ bên ngoài đưa đến" [52, tr. Cùng với tiến trình phát triển của xã hội, những nạn nhân với nghĩa là những cá nhân hay tổ chức phải gánh chịu những thiệt hại về tính mạng sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và tài sản ngày càng phong phú, đa dạng dưới nhiều hình thức như: nạn nhân của thiên tai, nạn nhân của tai nạn (giao thông, lao động), nạn nhân chiến tranh và nạn nhân của tội phạm. Trong phạm vi của luận văn này chỉ tập trung vào một dạng nạn nhân (người bị hại) của tội phạm. Người bị hại trong vụ án hình sự Người bị hại là một khái niệm phổ biến trong khoa học tố tụng hình sự, tuy nhiên thế nào là người bị hại, phạm vi đối tượng được xem là người bị hại cho đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi.

Dưới góc độ luật hình sự so sánh, có thể thấy ở các nước chưa có sự thống nhất trong khái niệm người bị hại. Ở các nước theo hệ thống thông luật 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (Common Law) thường sử dụng thuật ngữ “nạn nhân” (victims), trong khi các nước theo hệ thống luật dân sự (Civil Law) lại thường dùng thuật ngữ “người bị hại”, “người tố cáo”. Ngoài ra, người bị hại còn được gọi là “bị hại”, “người bị thiệt hại”, “nạn nhân”, hoặc thậm chí là “dân sự nguyên cáo” (người bị hại trong tố tụng dân sự). Các quan điểm về người bị hại - nạn nhân của tội phạm - đã được các nhà nghiên cứu tội phạm học tranh luận sôi nổi từ giữa thế kỉ XX.

Các định nghĩa về nạn nhân của tội phạm tuy còn nhiều điểm chưa thống nhất nhưng nhìn chung đều xác định nạn nhân của tội phạm theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, nạn nhân của tội phạm được xác định là những cá nhân bị hành vi phạm tội xâm phạm gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần hay thiệt hại về kinh tế. Quan điểm này cũng đã được ghi nhận trong Điều 1 Khoản 1 của Nghị quyết của Hội đồng Châu âu về địa vị của nạn nhân trong tố tụng hình sự năm 2001 [22]. Ngược với quan điểm trên, nhiều nhà nghiên cứu về nạn nhân học đã đưa ra định nghĩa về nạn nhân của tội phạm theo nghĩa rộng: nạn nhân của tội phạm bao gồm cả cá nhân và các tổ chức bị hành vi phạm tội xâm hại.

Trong Bộ luật TTHS 2003, khái niệm người bị hại được định nghĩa tại Điều 51 như sau: “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra” [38]. Theo đó, người bị hại trong vụ án hình sự chỉ có thể là cá nhân, người mà thể chất, tinh thần, tài sản bị thiệt hại do tội phạm gây ra. Tuy nhiên, đến Bộ luật TTHS 2015 có hiệu lực thi hành vào 01/7/2016 khái niệm bị hại được mở rộng không chỉ bao gồm cá nhân mà còn có thể là cơ quan, tổ chức. Tại Điều 62 BLTTHS 2015 quy định: “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra” [39].

8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về mặt nội dung pháp lý, có thể thông qua 3 dấu hiệu để xác định người bị hại trong TTHS, đó là: Về chủ thể, là người, cá nhân, tổ chức bị tội phạm xâm hại; Về thiệt hại, có sự thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác; Về nguồn gốc của thiệt hại, do chính hành vi phạm tội của người phạm tội trực tiếp gây ra. Trong vụ án hình sự, bị hại đóng vai trò là người tham gia tố tụng, được triệu tập để giải quyết vụ án hình sự theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền hoặc được xác định tư cách trong các biên bản tại cơ quan tiến hành tố tụng mà giai đoạn ban đầu là các biên bản ghi lời khai của cơ quan điều tra, đến tư cách tham gia tố tụng được xác định qua giấy triệu tập trong các giai đoạn tố tụng tiếp theo là truy tố và xét xử. Theo quy định của Bộ luật TTHS hiện hành của nước ta, “người bị hại” chỉ cá nhân bị thiệt hại do tội phạm, còn pháp nhân hoặc tổ chức bị thiệt hại do hành vi tội phạm tuy cũng là người tham gia tố tụng nhưng chỉ với tư cách là nguyên đơn dân sự. Khái niệm ngƣời làm chứng Theo Từ điển tiếng Việt, người làm chứng là “người đứng ra xác nhận những điều mình đã chứng kiến” [53].

Theo Từ điển Luật học thì: Người làm chứng là người tham gia tố tụng. Người nào biết được những tình tiết có liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng. Người làm chứng phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án; có nghĩa vụ khai trung thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ án [67]. Như vậy, người làm chứng trước hết phải là người trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy hoặc do nguồn thông tin khác mà biết rõ những nội dung và đối tượng có liên quan đến sự việc đã xảy ra.

Đây là đặc điểm thể hiện bản chất 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của người làm chứng. Nếu một người không trực tiếp nhìn thấy hoặc không biết những nội dung có liên quan đến sự việc xảy ra thì không không thể trở thành người làm chứng. Vì vậy, người làm chứng là người không thể thay thế, không thể cử người đại diện tham gia tố tụng thay cho người làm chứng. Những vấn đề mà người làm chứng đã được trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy hoặc biết đến có ý nghĩa chứng minh, làm rõ nội dung cụ thể của sự việc đã xảy ra (về thời gian, địa điểm xảy ra sự việc, về đối tượng, hành vi và diễn biến cụ thể của hành vi.

Tuy nhiên, người trực tiếp nhìn thấy hay biết đến sự việc không đương nhiên trở thành người làm chứng. Họ phải được cơ quan có thẩm quyền triệu tập đến, tiến hành lấy lời khai theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định. Những quy định về trình tự, thủ tục này sẽ tạo ra mối quan hệ về mặt pháp lý giữa người làm chứng với cơ quan có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, từ đó vị trí pháp lý của người làm chứng được xác lập, đồng thời xác định trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của người làm chứng, xác định hậu quả pháp lý khi người làm chứng khi có hành vi khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo. Ở Việt Nam, quy định về người làm chứng từng được ghi nhận trong Bộ Quốc triều Hình luật thời Lê sơ (hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức).

Điều 714 Bộ luật này quy định: Những người làm chứng trong việc kiện tụng nếu xét ra ngày thường đôi bên kiện tụng là người thân tình hay có thù oán, thì không cho phép ra làm chứng. Nếu những người ấy giấu giếm ra làm chứng, thì khép vào tội không nói đúng sự thật. Hình quan, ngục biết mà dung túng việc đó đều bị tội [51]. Trong thời kỳ Pháp thuộc, người làm chứng được quy định trong Bộ luật tố tụng áp dụng tại Bắc Kỳ như sau: "Phàm người chứng đã liệt danh trong đơn khống chế và các người mà quan thẩm phán liệu nghĩ đến chất vấn trong khi thẩm cứu, thì đều phải bị đòi gọi đến Tòa án để chất vấn" [28, Điều 20].

10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bộ luật Tố tụng Hình sự các năm 1988, 2003 và 2015 đều có quy định về người làm chứng. Theo Bộ luật TTHS năm 2003, người làm chứng là “người biết được những tình tiết có liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng”, người làm chứng chỉ có thể là cá nhân. Cá nhân đó biết được những tình tiết liên quan đến vụ án và chứng minh được vì sao họ biết các tình tiết đó. Pháp luật không quy định về độ tuổi và giới tính của người làm chứng, do vậy bất kỳ người nào biết được các tình tiết của vụ án đều có thể làm chứng.

Tuy nhiên, người làm chứng phải có khả năng nhận thức được sự việc có ý nghĩa cho việc chứng minh, giải quyết vụ án hình sự phải có ý nghĩa đối với quá trình chứng minh vụ án hình sự và trình bày lại những tình tiết đã được chứng kiến cho các cơ quan tiến hành tố tụng ghi nhận. Bộ luật TTHS 2015, tại điều 66 quy định: “Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng” [39]. Theo đó, người làm chứng tham gia tố tụng trong vụ án hình sự khi được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng, 1. Nội dung của quyền của ngƣời bị hại và ngƣời làm chứng trong vụ án hình sự Quyền là khái niệm chỉ những gì mà theo lẽ công bằng và chính đáng một người phải được hưởng, được làm, được bảo vệ và được đòi hỏi, yêu cầu chủ thể khác tôn trọng và bảo đảm.

Khái niệm quyền gắn với khả năng tự do hành động của chủ thể quyền. Nói cách khác, quyền là những gì mà chủ thể của quyền có thể thực hiện hay từ bỏ. Như đã đề cập, quyền của người bị hại và người làm chứng thuộc về những quyền con người mà mang tính tự nhiên, vốn có của họ, được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Trong luật nhân quyền quốc tế, quyền của người làm chứng và người bị hại thuộc về các quyền con người trong quản lý tư pháp, hay trong tố tụng hình sự.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quyền của Người Bị Hại và Người Làm Chứng trong Luật Nhân Quyền và Hình Sự Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quyền lợi của những người bị hại và nhân chứng trong bối cảnh pháp luật Việt Nam. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi của các cá nhân này, đồng thời chỉ ra những quy định pháp lý hiện hành và các cơ chế thực thi. Độc giả sẽ nhận được thông tin hữu ích về cách thức mà pháp luật có thể bảo vệ quyền lợi của họ, từ đó nâng cao nhận thức và khả năng tự bảo vệ trong các tình huống pháp lý.

Để mở rộng thêm kiến thức về quyền con người và các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường quyền tự do ngôn luận theo pháp luật quốc tế và pháp luật một số quốc gia một số giá trị cho việt nam, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về quyền tự do ngôn luận trong bối cảnh quốc tế. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ls bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố điều tra vụ án hình sự của viện kiểm sát nhân dân sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc bảo vệ quyền con người trong quá trình điều tra hình sự. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ ussh vai trò bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự của viện kiểm sát nhân dân qua thực tiễn tp hải phòng sẽ cung cấp thêm thông tin về vai trò của viện kiểm sát trong việc bảo vệ quyền con người. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến quyền con người và pháp luật tại Việt Nam.