Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI BỊ HẠI VÀ NGƢỜI LÀM CHỨNG TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm ngƣời bị hại 1. Khái niệm người bị hại nói chung Người bị hại nói chung là người bị thiệt hại do sự tác động tiêu cực của sự việc, hành vi hoặc bất kỳ sự tác động nào. Theo cách hiểu này, khái niệm người bị hại đồng nghĩa với khái niệm nạn nhân, và dùng để chỉ cả cá nhân (con người) và tổ chức – những đối tượng phải gánh chịu thiệt hại từ bên ngoài đưa đến Thuật ngữ “nạn nhân” được sử dụng để miêu tả những người bị thiệt hại, người bị thiệt hại.
Theo từ điển tiếng Việt, nạn nhân được hiểu là: “Người bị tai nạn” hoặc "Người, tổ chức gánh chịu hậu quả từ bên ngoài đưa đến" [52, tr. Cùng với tiến trình phát triển của xã hội, những nạn nhân với nghĩa là những cá nhân hay tổ chức phải gánh chịu những thiệt hại về tính mạng sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và tài sản ngày càng phong phú, đa dạng dưới nhiều hình thức như: nạn nhân của thiên tai, nạn nhân của tai nạn (giao thông, lao động), nạn nhân chiến tranh và nạn nhân của tội phạm. Trong phạm vi của luận văn này chỉ tập trung vào một dạng nạn nhân (người bị hại) của tội phạm. Người bị hại trong vụ án hình sự Người bị hại là một khái niệm phổ biến trong khoa học tố tụng hình sự, tuy nhiên thế nào là người bị hại, phạm vi đối tượng được xem là người bị hại cho đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi.
Dưới góc độ luật hình sự so sánh, có thể thấy ở các nước chưa có sự thống nhất trong khái niệm người bị hại. Ở các nước theo hệ thống thông luật 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (Common Law) thường sử dụng thuật ngữ “nạn nhân” (victims), trong khi các nước theo hệ thống luật dân sự (Civil Law) lại thường dùng thuật ngữ “người bị hại”, “người tố cáo”. Ngoài ra, người bị hại còn được gọi là “bị hại”, “người bị thiệt hại”, “nạn nhân”, hoặc thậm chí là “dân sự nguyên cáo” (người bị hại trong tố tụng dân sự). Các quan điểm về người bị hại - nạn nhân của tội phạm - đã được các nhà nghiên cứu tội phạm học tranh luận sôi nổi từ giữa thế kỉ XX.
Các định nghĩa về nạn nhân của tội phạm tuy còn nhiều điểm chưa thống nhất nhưng nhìn chung đều xác định nạn nhân của tội phạm theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, nạn nhân của tội phạm được xác định là những cá nhân bị hành vi phạm tội xâm phạm gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần hay thiệt hại về kinh tế. Quan điểm này cũng đã được ghi nhận trong Điều 1 Khoản 1 của Nghị quyết của Hội đồng Châu âu về địa vị của nạn nhân trong tố tụng hình sự năm 2001 [22]. Ngược với quan điểm trên, nhiều nhà nghiên cứu về nạn nhân học đã đưa ra định nghĩa về nạn nhân của tội phạm theo nghĩa rộng: nạn nhân của tội phạm bao gồm cả cá nhân và các tổ chức bị hành vi phạm tội xâm hại.
Trong Bộ luật TTHS 2003, khái niệm người bị hại được định nghĩa tại Điều 51 như sau: “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra” [38]. Theo đó, người bị hại trong vụ án hình sự chỉ có thể là cá nhân, người mà thể chất, tinh thần, tài sản bị thiệt hại do tội phạm gây ra. Tuy nhiên, đến Bộ luật TTHS 2015 có hiệu lực thi hành vào 01/7/2016 khái niệm bị hại được mở rộng không chỉ bao gồm cá nhân mà còn có thể là cơ quan, tổ chức. Tại Điều 62 BLTTHS 2015 quy định: “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra” [39].
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về mặt nội dung pháp lý, có thể thông qua 3 dấu hiệu để xác định người bị hại trong TTHS, đó là: Về chủ thể, là người, cá nhân, tổ chức bị tội phạm xâm hại; Về thiệt hại, có sự thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác; Về nguồn gốc của thiệt hại, do chính hành vi phạm tội của người phạm tội trực tiếp gây ra. Trong vụ án hình sự, bị hại đóng vai trò là người tham gia tố tụng, được triệu tập để giải quyết vụ án hình sự theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền hoặc được xác định tư cách trong các biên bản tại cơ quan tiến hành tố tụng mà giai đoạn ban đầu là các biên bản ghi lời khai của cơ quan điều tra, đến tư cách tham gia tố tụng được xác định qua giấy triệu tập trong các giai đoạn tố tụng tiếp theo là truy tố và xét xử. Theo quy định của Bộ luật TTHS hiện hành của nước ta, “người bị hại” chỉ cá nhân bị thiệt hại do tội phạm, còn pháp nhân hoặc tổ chức bị thiệt hại do hành vi tội phạm tuy cũng là người tham gia tố tụng nhưng chỉ với tư cách là nguyên đơn dân sự. Khái niệm ngƣời làm chứng Theo Từ điển tiếng Việt, người làm chứng là “người đứng ra xác nhận những điều mình đã chứng kiến” [53].
Theo Từ điển Luật học thì: Người làm chứng là người tham gia tố tụng. Người nào biết được những tình tiết có liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng. Người làm chứng phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án; có nghĩa vụ khai trung thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ án [67]. Như vậy, người làm chứng trước hết phải là người trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy hoặc do nguồn thông tin khác mà biết rõ những nội dung và đối tượng có liên quan đến sự việc đã xảy ra.
Đây là đặc điểm thể hiện bản chất 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của người làm chứng. Nếu một người không trực tiếp nhìn thấy hoặc không biết những nội dung có liên quan đến sự việc xảy ra thì không không thể trở thành người làm chứng. Vì vậy, người làm chứng là người không thể thay thế, không thể cử người đại diện tham gia tố tụng thay cho người làm chứng. Những vấn đề mà người làm chứng đã được trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy hoặc biết đến có ý nghĩa chứng minh, làm rõ nội dung cụ thể của sự việc đã xảy ra (về thời gian, địa điểm xảy ra sự việc, về đối tượng, hành vi và diễn biến cụ thể của hành vi.
Tuy nhiên, người trực tiếp nhìn thấy hay biết đến sự việc không đương nhiên trở thành người làm chứng. Họ phải được cơ quan có thẩm quyền triệu tập đến, tiến hành lấy lời khai theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định. Những quy định về trình tự, thủ tục này sẽ tạo ra mối quan hệ về mặt pháp lý giữa người làm chứng với cơ quan có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, từ đó vị trí pháp lý của người làm chứng được xác lập, đồng thời xác định trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của người làm chứng, xác định hậu quả pháp lý khi người làm chứng khi có hành vi khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo. Ở Việt Nam, quy định về người làm chứng từng được ghi nhận trong Bộ Quốc triều Hình luật thời Lê sơ (hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức).
Điều 714 Bộ luật này quy định: Những người làm chứng trong việc kiện tụng nếu xét ra ngày thường đôi bên kiện tụng là người thân tình hay có thù oán, thì không cho phép ra làm chứng. Nếu những người ấy giấu giếm ra làm chứng, thì khép vào tội không nói đúng sự thật. Hình quan, ngục biết mà dung túng việc đó đều bị tội [51]. Trong thời kỳ Pháp thuộc, người làm chứng được quy định trong Bộ luật tố tụng áp dụng tại Bắc Kỳ như sau: "Phàm người chứng đã liệt danh trong đơn khống chế và các người mà quan thẩm phán liệu nghĩ đến chất vấn trong khi thẩm cứu, thì đều phải bị đòi gọi đến Tòa án để chất vấn" [28, Điều 20].
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bộ luật Tố tụng Hình sự các năm 1988, 2003 và 2015 đều có quy định về người làm chứng. Theo Bộ luật TTHS năm 2003, người làm chứng là “người biết được những tình tiết có liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng”, người làm chứng chỉ có thể là cá nhân. Cá nhân đó biết được những tình tiết liên quan đến vụ án và chứng minh được vì sao họ biết các tình tiết đó. Pháp luật không quy định về độ tuổi và giới tính của người làm chứng, do vậy bất kỳ người nào biết được các tình tiết của vụ án đều có thể làm chứng.
Tuy nhiên, người làm chứng phải có khả năng nhận thức được sự việc có ý nghĩa cho việc chứng minh, giải quyết vụ án hình sự phải có ý nghĩa đối với quá trình chứng minh vụ án hình sự và trình bày lại những tình tiết đã được chứng kiến cho các cơ quan tiến hành tố tụng ghi nhận. Bộ luật TTHS 2015, tại điều 66 quy định: “Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng” [39]. Theo đó, người làm chứng tham gia tố tụng trong vụ án hình sự khi được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng, 1. Nội dung của quyền của ngƣời bị hại và ngƣời làm chứng trong vụ án hình sự Quyền là khái niệm chỉ những gì mà theo lẽ công bằng và chính đáng một người phải được hưởng, được làm, được bảo vệ và được đòi hỏi, yêu cầu chủ thể khác tôn trọng và bảo đảm.
Khái niệm quyền gắn với khả năng tự do hành động của chủ thể quyền. Nói cách khác, quyền là những gì mà chủ thể của quyền có thể thực hiện hay từ bỏ. Như đã đề cập, quyền của người bị hại và người làm chứng thuộc về những quyền con người mà mang tính tự nhiên, vốn có của họ, được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Trong luật nhân quyền quốc tế, quyền của người làm chứng và người bị hại thuộc về các quyền con người trong quản lý tư pháp, hay trong tố tụng hình sự.