CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CÔNG TỐ VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUYỀN CÔNG TỐ. Khái niệm quyền công tố 1. Xuất xứ của quyền công tố. Quan điểm lịch sử cụ thể trong Triết học Mác Lênin chỉ ra rằng nghiên cứu một vấn đề nào đó, chúng ta không nên tách rời khỏi lịch sử, hoàn cảnh ra đời của chúng.Lê-nin viết: Điều quan trọng nhất của một sự nghiên cứu khoa học là không nên quên sự liên hệ lịch sử căn bản, là nhận xét mỗi vấn đề theo quan điểm sau đây: Một hiện tượng nào đó đã xuất hiện trong quá trình lịch sử như thế nào? Các giai đoạn chính của nó là những gì? Và đứng trên quan điểm sủa sự phát triển đó để xem xét hiện tượng đó đã trở nên như thế nào1? Khi nghiên cứu về quyền công tố, chúng ta phải bắt đầu từ nguồn gốc của chúng.
Đề cập về sự xuất hiện của quyền công tố, có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng tựu trung có ba quan điểm chính như sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng quyền công tố có từ rất xa xưa của xã hội loài người, từ thời Nhà nước chiếm hữu nô lệ Hy lạp cổ đại và La mã cổ đại (vào thế kỷ V trước Công nguyên). Lúc này, pháp luật đã được hình thành và phân chia thành hai lĩnh vực khác nhau: công pháp và tư pháp; tương ứng với nó là hai hình thức tố tụng khác nhau: tố tụng công tố và tố tụng tư tố. Hình thức tố tụng công tố, do các quan lại Nhà nước đảm nhiệm, nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công (của Nhà nước, toàn xã hội); còn hình thức tố tụng tư tố, do các cá nhân đảm nhiệm, bảo vệ lợi ích tư (của cá nhân công dân). Tuy nhiên, càng về sau, sang thời kỳ chế độ Phong kiến thì quyền công tố này không được tiếp tục duy trì.
Pháp luật phong kiến độc quyền, làm mờ nhạt vị trí của quyền công tố trong tố tụng hình sự. Một số nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng chia sẻ quan điểm này như GS-TSKH Lê Cảm2, PGS-TS. Nguyễn Thái Phúc3, TS. Lê Hữu Thể4.
(1980), Toàn tập, tập 39, Nxb Sự thật, Hà Nội. 2 Lê Cảm (2001), “Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tố”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4. 5 Quan điểm này dựa sự nghiên cứu so sánh lịch sử tư pháp hình sự thế giới, có những cơ sở khoa học là sự phát triển pháp luật của Nhà nước Hy lạp cổ đại và La mã cổ đại. Do đó, quan điểm này được nhiều người tán thành.
Quan điểm thứ hai, một số nhà khoa học nhận định: quyền công tố Nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước. Quyền công tố Nhà nước tồn tại trong tất cả các kiểu Nhà nước từ Nhà nước chiếm hữu nô lệ đến, Nhà nước Phong kiến đến Nhà nước XHCN5. Quan điểm này xem ra có phần thiếu thuyết phục, vì như trên đã trình bày, cho đến cuối thời kỳ chiếm hữu nô lệ, ở một số nhà nước có nền pháp luật phát triển cao như nhà nước Hy lạp và La mã cổ đại mới có sự phân chia của pháp luật và xuất hiện ý niệm quyền công tố. Các nhà nước khác của thời kỳ chiếm hữu nô lệ, sự phát triển của pháp luật còn hạn chế, chưa có cơ sở xuất hiện quyền công tố.
Trong nhà nước phong kiến, tuy có pháp luật nhưng cũng chưa hẳn là có quyền công tố vì pháp luật tập trung vào tay một cá nhân (Nhà Vua). Chính Nhà Vua (và quan lại tức người của Vua) nắm trọn tất cả các quyền năng của pháp luật, từ lập pháp, hành pháp, tư pháp. Từ việc phát động vụ án (tương tự như khởi tố ngày nay) cho đến điều tra, xét xử và thậm chí đến thi hành án đều do một vị quan lại đảm nhiệm. Không có sự tách bạch giữa chức năng xét xử và chức năng buộc tội, không tồn tại một cơ quan thực hiện chức năng truy tố và bảo vệ sự truy tố trước tòa mà là do chính quan tòa đảm nhiệm; Do vậy, quyền công tố chưa có điều kiện xuất hiện.
Quan điểm thứ ba cho rằng quyền công tố xuất hiện vào cuối thế kỷ 13, đầu thế kỷ 14, thời kỳ tan rã của chế độ phong kiến, với sự tách rời Tòa án khỏi cơ quan hành pháp6. 3 Nguyễn Thái Phúc, “Một số vấn đề về quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân”, Kỷ yếu đề tài cấp Bộ: Những vấn đề về lý luận và thực tiễn cấp bách của Tố tụng hình sự Việt Nam, VKSNDTC, tr. 4 Lê Hữu Thể, “Về khái niệm quyền công tố”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (số 7/2000) tr. 5 Vũ Mộc (1995), “Về thực hiện quyền công tố của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự, thực tiễn và kiến nghị”, Kỷ yếu đề tài cấp Bộ Những vấn đề về lý luận và thực tiễn cấp bách của Tố tụng hình sự Việt Nam, VKSNDTC-1995, tr.
6 Vũ Mộc (1995), “Về thực hiện quyền công tố của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự, thực tiễn và kiến nghị”, Kỷ yếu đề tài cấp Bộ Những vấn đề về lý luận và thực tiễn cấp bách của Tố tụng hình sự Việt Nam, VKSNDTC-1995, tr. 6 Quan điểm này có cơ sở nhất. Vào giai đoạn cuối của Chế độ Phong kiến, chống lại sự độc tài của pháp luật phong kiến, tập trung mọi quyền lực vào tay một cá nhân (Vua), tư tưởng phân quyền của Nhà triết học Hy lạp cổ đại Aristotle được khơi lại, dẫn đến việc tách Tòa án ra khỏi cơ quan hành pháp. Tư tưởng phân quyền này tiếp tục được John Locke và C.
Montesquieu phát triển thành Học thuyết Tam quyền phân lập7. Và do tách Tòa án khỏi hành pháp, khi có phân quyền giữa xét xử và hành pháp, thì quyền công tố mới được chính thức hình thành và ngày càng phát triển. Qua các viện dẫn trên cho thấy, quyền công tố không phải xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện nhà nước. Quyền công tố cũng không phải có song song với pháp luật.
Quyền công tố chỉ xuất hiện khi pháp luật đã phát triển đến một mức độ nhất định, có sự phân chia thành lĩnh vực công và tư. Trong lĩnh vực tư, do quyền lợi riêng của cá nhân bị xâm hại, cá nhân bị xâm hại có khuynh hướng tích cực bảo vệ quyền lợi của mình, họ chủ động phát động, tham gia tố tụng và bảo vệ quyền lợi của mình. Còn trong lĩnh vực công, sự xâm hại hướng đến quyền lợi của Nhà nước, của giai cấp thống trị, đến trật tự công cộng, của toàn xã hội. Do có nhiều trường hợp không đồng thời xâm hại đến lợi ích của một cá nhân cụ thể nên không có cá nhân bảo vệ; hơn nữa sự bảo vệ của cá nhân không đủ mạnh, cho nên nhà nước phải dành lấy quyền bảo vệ, thiết lập nên một cơ chế bảo vệ mạnh mẽ, hữu hiệu hơn, mang hình thức là quyền công tố.
Quyền công tố được sinh ra trong hoàn cảnh như vậy, cho nên nó mang sứ mệnh lịch sử là để bảo vệ Nhà nước, giai cấp thống trị, trật tự công cộng, lợi ích công của toàn xã hội. Cho nên khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, khi không còn Nhà nước, không còn pháp luật như khi phát triển đến Chế độ Cộng sản chủ nghĩa, thì quyền công tố cũng sẽ không còn tồn tại. Như vậy, xuất xứ của quyền công tố có thể đã phôi thai từ thời Hy lạp cổ đại, La mã cổ đại. Tuy nhiên, phải đến giai đoạn cuối của Nhà nước Phong kiến thì quyền công tố mới có điều kiện phát triển.
Lúc này, các cơ quan công tố đầu tiên mới chính thức được thành lập (ở Pháp năm 1302 duới triều vua Philippe IV; ở Nga 1772 dưới thời Nga Hoàng). Quyền công tố được hình thành từ sự phân chia quyền lực. Do tách chức năng xét xử khỏi hành pháp, 7 Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Tam quyền phân lập, http://vi.org/wiki/Tamquyenphanlap. 7 Nhà nước cần phải có một cơ chế hữu hiệu để bảo vệ mình, bảo vệ chế độ (và sau này phát triển theo hướng văn minh hơn là bảo vệ tới quyền và lợi ích hợp pháp của công dân) mà quyền công tố được xác lập.
Ngay từ khi xuất hiện cho đến nay, khái niệm về quyền công tố là một phạm trù phức tạp. Các nhà khoa học hình sự vẫn không ngừng nghiên cứu để có khái niệm về quyền công tố một cách hoàn chỉnh hơn. Khái niệm về quyền công tố trong tố tụng hình sự Hiện nay, trong khoa học tố tụng hình sự Việt Nam chưa có sự thống nhất về khái niệm “quyền công tố”. Về mặt lập pháp, cụm từ “quyền công tố” chính thức được ghi nhận lần đầu tiên trong Hiến pháp 1980 (điều 138).
Sau này, cụm từ trên vẫn được tiếp tục ghi trong Hiến pháp 1992 (điều 137) và các đạo luật liên quan về sau như Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, 2003; Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân các năm 1981, 1992, 2002; Pháp lệnh Kiểm sát viên… Trong thực tế, công việc thực hiện quyền công tố đã được Nhà nước thống nhất giao cho Viện công tố, Viện kiểm sát đảm nhiệm từ năm 1945 đến nay. Về mặt từ ngữ, theo Từ điển Luật học năm 2006 của Nhà xuất bản Tư pháp, quyền công tố là “quyền buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội8”. Khái niệm này đã đưa ra phác họa chung nhất về quyền công tố. Tuy nhiên đứng trên góc độ chuyên ngành luật, khái niệm quyền công tố đang được bàn luận với nhiều quan điểm khác nhau.
Các quan điểm này, tập trung ở các khía cạnh sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng “quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật9”, phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và được tiến hành trong khi thực hiện các công tác kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử hình sự, kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hành chính, kiểm sát thi hành án, kiểm sát giam giữ cải tạo và công tác điều tra tội phạm. 8 Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học (2006), Nxb Tư pháp, tr. 9 Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà nội (1996), Giáo trình công tác kiểm sát phần chung, nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.