Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI THÔNG QUA KIỂM SÁT XÉT XỬ PHÚC THẨM HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP TỈNH 1. Khái quát chung về quyền con người 1. Khái niệm quyền con người Trong lịch sử nhân loại trước thế kỷ XVII, đã hình thành hai quan điểm chủ yếu, khác nhau về quyền con người. Học thuyết Mác - Lênin xem xét con người với tư cách là sản phẩm của tự nhiên và xã hội.
Con người là một thực thể tự nhiên nhưng là một thực thể tự nhiên con người trong cộng đồng xã hội [56]. Trong cái tự nhiên của con người có mặt xã hội và trong cái xã hội của con người có mặt tự nhiên. Do đó, Quyền con người là sự thống nhất biện chứng giữa “quyền tự nhiên” (như một đặc quyền vốn có và chỉ con người mới có) và “quyền xã hội” - sự chế định bằng các quy chế pháp lý nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Có một định nghĩa khác về quyền con người thường được nhắc đến, theo đó, “quyền con người là những sự được phép (entitlements) mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội.
đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người” [16]. Trong khi đó, tại Việt Nam, đã có những định nghĩa về quyền con người do một số cơ quan nghiên cứu và các chuyên gia từng nêu ra.TS Nguyễn Đăng Dung cho rằng: Quyền con người: Đó là những quyền cơ bản nhất của con người, được có một cách tự nhiên gắn bó mật thiết với con người - một động vật cao cấp có lý trí, và có tình cảm làm cho con người khác với các động vật khác, mà nhà nước thành lập với một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của mình là phải bảo vệ những quyền đó [40]. Còn đối với TS Trần Quang Tiệp ông lại đưa ra một định nghĩa ngắn gọn, khá 8 đầy đủ và cụ thể về quyền con người như sau: “Quyền con người là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ có con người mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định” [13]. Như vậy, tùy mỗi cách tiếp cận, nghiên cứu khác nhau thì khái niệm quyền con người được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau nhằm đảm bảo cho việc thực thi quyền con người tại mỗi một quốc gia trên thế giới hiện nay.
Theo từ điển Tiếng Việt Việt Nam ghi nhận định nghĩa này như sau: Quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và thỏa thuận pháp lý quốc tế [36]. Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng theo quan niệm chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người được xác định dựa trên hai bình diện chủ yếu là giá trị đạo đức và giá trị pháp luật. Dưới bình diện đạo đức, quyền con người là giá trị xã hội cơ bản, vốn có (những đặc quyền) của con người như nhân phẩm, bình đẳng xã hội, tự do.; dưới bình diện pháp lý, để trở thành quyền, những đặc quyền phải được thể chế hóa bằng các chế định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Như vậy, dù ở góc độ nào hay cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là chuẩn mực được kết tinh từ những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, áp dụng cho tất cả mọi người.
Ở nước ta hiện nay, khẳng định vai trò quan trọng của quyền con người và cho rằng đây là một trong những quyền tối thượng của con người nên tại các bản Hiến pháp nói chung, quyền con người đã ghi nhận các quyền được áp dụng cho “mọi người” là quyền con người, ví dụ như quy định tại Điều 16, 19, 20, 21, 24, 30, 33 … của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013. Cùng với khái niệm quyền con người, chúng ta còn thường thấy đi kèm với nó là khái niệm quyền công dân. Quyền con người và quyền công dân là hai khái niệm có mối liên hệ mật thiết với nhau, tuy nhiên, hai khái niệm này có sự khác biệt nhất định: 9 Quyền con người là khái niệm có tính chất bao quát và rộng hơn quyền công dân. Quyền con người là quyền được áp dụng cho tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc đang sinh sống trên phạm vi toàn cầu, không phân biệt quốc tịch, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia hay tư cách cá nhân của chủ thể, thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với toàn thể cộng đồng nhân loại.
Quyền công dân là khái niệm gắn liền với Nhà nước, thể hiện mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước, được xác định bởi chế định quốc tịch. Quyền công dân là tập hợp những quyền con người được pháp luật của một nước ghi nhận và chỉ những người mang quốc tịch của một nước thì mới được hưởng các quyền công dân mà pháp luật nước đó quy định. Quyền con người muốn được hiện thực hóa phải được quy định cụ thể trong pháp luật, nếu không, nó chỉ mang ý nghĩa tượng trưng, không có ý nghĩa thực tế. Pháp luật là phương tiện để ghi nhận và hiện thực hóa các quyền con người.
Khi được pháp luật quy định, quyền con người trở thành quyền công dân. Đồng thời, pháp luật còn thiết lập nghĩa vụ của những chủ thể có liên quan trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân [57]. Tùy vào tính chất chủ quan của mỗi người, tùy vào lĩnh vực nghiên cứu mà quyền con người được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Ở cấp độ quốc tế, định nghĩa về quyền con người phổ biến nhất vẫn là định nghĩa của Cao ủy LHQ về quyền con người, theo đó: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”[12].
Từ những phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa về quyền con người như sau: Quyền con người là quyền mà con người được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định và được nhà nước đảm bảo thông qua hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Với quy định như trên thì đã chỉ ra những đặc điểm thuộc 10 về bản chất của quyền con người. Thông qua đó, đã tạo nền tảng cơ bản điều chỉnh một cách tương đối hợp lý các vấn đề liên quan đến đưa ra một chuẩn mực chung về khái niệm này, phù hợp với thực tiễn áp dụng tại Việt Nam. Tạo ra cơ sở cho các hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm điều chỉnh có liên quan đến quyền con người ở nước ta phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn hiện nay.
Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự Trong giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước thì có thể nói rằng quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự là bộ phận quan trọng của hệ thống quyền con người trong pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia. Do đó, quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự có những đặc điểm chung của quyền con người, đồng thời còn có những đặc điểm riêng là những quyền này chỉ xuất hiện khi có sự đương đầu của cá nhân người bị cáo buộc phạm tội với các cơ quan công quyền có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Từ những đặc điểm của quyền con người trong lĩnh vực tư pháp mà hình thành nên cơ chế đặc thù của bảo đảm quyền con người ở lĩnh vực này. Ở Việt Nam, tư tưởng của một Nhà nước pháp quyền vì con người đã được bắt đầu từ Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của đất nước ta từ những ngày đầu tìm đường cứu nước.
Người đã sớm nhận thức được vai trò của pháp luật trong việc điều hành, quản lý xã hội cũng như trong việc ghi nhận và bảo đảm thực thi quyền con người. Năm 1919, trong bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điều đã có tới 4 điều liên quan đến pháp luật, đặc biệt là điều 7: "Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật" [12]. Từ đó, trong bản yêu sách của Người đã khẳng định tầm quan trọng về quyền con người bằng việc ra các đạo luật. Như vậy là từ hơn 90 năm trước đây khi nước ta còn là một nước thuộc địa, Hồ Chí Minh đã am hiểu sâu sắc về Nhà nước và pháp luật, và rất quan tâm đến việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền ở nước ta.
11 Quyền con người trong mọi lĩnh vực, được coi là giá trị của nhân loại, phải được tôn trọng và bảo vệ bao gồm cả các quyền cần được đảm bảo bởi pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự. Thông qua các điều khoản của BLHS Việt Nam hiện hành đã cho chúng ta có thể thấy rất rõ vấn đề quyền con người và bảo vệ quyền con người được thể hiển rất cụ thể. Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 cho quy định hành vi xâm phạm đến quyền sống của con người được coi là một trong những hành vi phạm tội nghiêm trọng nhất và bị pháp luật nghiêm trị. Để bảo đảm thực hiện nguyên tắc đã được Hiến pháp ghi nhận, đó là quyền bất khả xâm phạm về tính mạng của công dân, Chương XII BLHS năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định 10 tội danh liên quan đến hành vi trực tiếp hay gián tiếp, vô tình hay cố ý tước đoạt sinh mạng của người khác một cách bất hợp pháp, đó là: Tội giết người (Điều 93); Tội giết con mới đẻ (Điều 94); Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95); Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 96); Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 97); Tội vô ý làm chết người (Điều 98); Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 99); Tội bức tử (Điều 100); Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát (Điều 101); Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 102)[23].
Do đối tượng tác động của tội phạm là xâm phạm quyền sống của con người nên chính sách hình sự và đường lối xử lý của Nhà nước đối với các tội xâm phạm tính mạng của con người là rất nghiêm khắc.