Luận Văn Thạc Sĩ Về Quyền Bình Đẳng Việc Làm Trong Pháp Luật Quốc Tế Và Việt Nam

Luận văn thạc sĩ VNU LS phân tích quyền bình đẳng về việc làm trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, tập trung vào quyền con người.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

140
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRONG LĨNH VỰC VIỆC LÀM

1.1. KHÁI NIỆM VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRONG LĨNH VỰC VIỆC LÀM

1.2. NỘI DUNG QUYỀN BÌNH ĐẲNG VỀ VIỆC LÀM

1.3. BẢN CHẤT, NGUỒN GỐC, Ý NGHĨA XÃ HỘI CỦA QUYỀN BÌNH ĐẲNG VỀ VIỆC LÀM

1.4. CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ TRONG LĨNH VỰC VIỆC LÀM

1.5. MỐI QUAN HỆ GIỮA QUYỀN BÌNH ĐẲNG VỀ VIỆC LÀM VÀ CÁC QUYỀN CON NGƯỜI KHÁC

2. CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRONG LĨNH VỰC VIỆC LÀM

2.1. QUYỀN BÌNH ĐẲNG VỀ VIỆC LÀM TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LIÊN HỢP QUỐC

2.2. QUYỀN BÌNH ĐẲNG VỀ VIỆC LÀM TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA TỔ CHỨC LAO ĐỘNG QUỐC TẾ ILO

2.3. QUYỀN BÌNH ĐẲNG VỀ VIỆC LÀM TRONG CÁC CÔNG ƯỚC VỀ QUYỀN KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA

3. CHƯƠNG 3: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BÌNH ĐẲNG TRONG LĨNH VỰC VIỆC LÀM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG VỀ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM

3.1. PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRONG LĨNH VỰC VIỆC LÀM

3.2. GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO QUYỀN BÌNH ĐẲNG VỀ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Quyền Bình Đẳng Việc Làm Trong Pháp Luật Quốc Tế

Quyền bình đẳng việc làm là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế. Từ Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền đến các công ước của Liên Hợp Quốc, quyền này khẳng định rằng mọi người đều có quyền được làm việc và được đối xử công bằng trong môi trường lao động. Điều này không chỉ đảm bảo sự phát triển cá nhân mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội.

1.1. Khái Niệm Quyền Bình Đẳng Trong Việc Làm

Quyền bình đẳng trong việc làm bao gồm quyền được làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, và quyền được trả lương công bằng. Điều này được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật quốc tế và quốc gia.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Quyền Bình Đẳng Việc Làm

Quyền bình đẳng việc làm không chỉ là một quyền cá nhân mà còn là một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng một xã hội công bằng và phát triển. Nó giúp giảm thiểu sự phân biệt đối xử và thúc đẩy sự hòa nhập xã hội.

II. Thách Thức Trong Việc Đảm Bảo Quyền Bình Đẳng Việc Làm Tại Việt Nam

Mặc dù Việt Nam đã có nhiều quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền bình đẳng việc làm, nhưng thực tế vẫn còn nhiều thách thức. Các vấn đề như phân biệt giới tính, điều kiện làm việc không công bằng, và sự thiếu hiểu biết về quyền lợi lao động vẫn tồn tại.

2.1. Phân Biệt Giới Tính Trong Việc Làm

Phân biệt giới tính vẫn là một vấn đề lớn trong thị trường lao động Việt Nam. Phụ nữ thường gặp khó khăn hơn trong việc tìm kiếm việc làm và thường bị trả lương thấp hơn so với nam giới cho cùng một công việc.

2.2. Điều Kiện Làm Việc Không Công Bằng

Nhiều người lao động vẫn phải làm việc trong điều kiện không an toàn và không đảm bảo sức khỏe. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của họ mà còn đến năng suất lao động.

III. Phương Pháp Đảm Bảo Quyền Bình Đẳng Việc Làm Tại Việt Nam

Để đảm bảo quyền bình đẳng việc làm, Việt Nam cần thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ. Các chính sách cần được xây dựng và thực thi một cách nghiêm túc để bảo vệ quyền lợi của người lao động.

3.1. Cải Cách Pháp Luật Lao Động

Cần có những cải cách trong pháp luật lao động để đảm bảo quyền bình đẳng việc làm cho tất cả mọi người, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ, người cao tuổi và người khuyết tật.

3.2. Tăng Cường Đào Tạo Và Giáo Dục

Đào tạo và giáo dục về quyền lao động là rất cần thiết. Người lao động cần được trang bị kiến thức để hiểu rõ quyền lợi của mình và biết cách bảo vệ chúng.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Quyền Bình Đẳng Việc Làm Tại Việt Nam

Việc thực hiện quyền bình đẳng việc làm tại Việt Nam đã có những kết quả tích cực, nhưng vẫn cần nhiều nỗ lực hơn nữa. Các doanh nghiệp và tổ chức cần thực hiện các chính sách bình đẳng trong tuyển dụng và đãi ngộ.

4.1. Các Doanh Nghiệp Tiên Tiến

Nhiều doanh nghiệp đã áp dụng các chính sách bình đẳng trong tuyển dụng và đãi ngộ, tạo ra môi trường làm việc công bằng cho tất cả nhân viên.

4.2. Kết Quả Nghiên Cứu Về Quyền Bình Đẳng

Các nghiên cứu cho thấy rằng việc thực hiện quyền bình đẳng việc làm không chỉ mang lại lợi ích cho người lao động mà còn cho cả doanh nghiệp, giúp tăng cường năng suất và sự hài lòng của nhân viên.

V. Kết Luận Về Quyền Bình Đẳng Việc Làm Trong Pháp Luật Quốc Tế Và Việt Nam

Quyền bình đẳng việc làm là một quyền cơ bản và cần thiết cho sự phát triển bền vững của xã hội. Việt Nam cần tiếp tục nỗ lực để hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi các chính sách nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động.

5.1. Tương Lai Của Quyền Bình Đẳng Việc Làm

Tương lai của quyền bình đẳng việc làm tại Việt Nam phụ thuộc vào sự cam kết của chính phủ và các tổ chức trong việc thực hiện các chính sách và quy định pháp luật.

5.2. Khuyến Nghị Để Cải Thiện Quyền Bình Đẳng

Cần có những khuyến nghị cụ thể để cải thiện quyền bình đẳng việc làm, bao gồm việc tăng cường giám sát và thực thi pháp luật, cũng như nâng cao nhận thức của người lao động về quyền lợi của họ.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls quyền bình đẳng về việc làm trong pháp luật quốc tế và pháp luật việt nam luận văn ths pháp luật và quyền con người

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRONG LĨNH VỰC VIỆC LÀ M 1. KHÁI NIỆM VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRONG LĨNH VỰC VIỆC LÀM 1. Khái niệm quyền viêc̣ làm Trong các văn kiện quốc tế về nhân quyền thì quyền làm việc cũng như các quyền khác của con người là một giá trị nhân loại được ghi nhận trong Tuyên bố chung về quyền con người do Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948:” Mọi người sinh ra đều có quyền tự do bình đẳng về nhân phẩm và các quyền. Mọi người đều được tạo hóa ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau bằng tình anh em” (Điều 1).

Ngoài ra tại điều 25 của Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người còn quy định rõ:”Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để đảm bảo sức khỏe và phúc lợi của bản thân và gia đình, về các phương diện ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết cũng như có quyền được bảo trợ trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tàn phế, góa bụa, già nua hoặc thiếu phương tiện sinh sống xuất phát từ những hoàn cảnh khách quan mà vượt quá khả năng đối phó của họ”. Quyền làm việc còn là một trong những quyền về kinh tế, xã hội. Cụ thể hóa các quyền về việc làm trong Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người (1948), Công ước về các quyền kinh tế xã hội và văn hóa do Liên hợp quốc thông qua ngày 16/12/1966, tại khoản 1, điều 6 quy định: „ Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận quyền làm việc, trong đó bao gồm các quyền của tất cả mọi người có cơ hội kiếm sống bằng công việc do họ tự do lựa chọn hoặc chấp nhận, và các quốc gia phải 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thi hành các biện pháp thích hợp để đảm bảo quyền này”. Tại khoản 2 điều này quy định các quốc gia thành viên thừa nhận rằng:‟ Phải tiến hành các biện pháp để thực hiện đầy đủ quyền này, bao gồm triển khai các chương trình đào tạo kỹ thuật và hướng nghiệp, các chính sách và biện pháp kỹ thuật nhằm đảm bảo sự phát triển vững chắc về kinh tế, xã hội và văn hóa, tạo công ăn, việc làm đầy đủ và hữu ích với điều kiện đảm bảo các quyền tự do cơ bản về chính trị và kinh tế của từng cá nhân”.

Như vậy có thể thấy tất cả mọi người đều có quyền làm việc, quyền có cơ hội kiếm sống bằng công việc do chính bản thân họ tự chọn và chấp thuận. Quyền làm việc đối với mỗi người là một nhu cầu của cuộc sống để sinh tồn phát triển và hoàn thiện mình. Ngoài ra, tại điều 7 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa khẳng định quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, đặc biệt là được đảm bảo: a) Thù lao cho tẩ cả mọi người làm công tối thiểu phải đảm bảo thỏa đáng và công bằng, đảm bảo cuộc sống tương đối đầy đủ cho họ và gia đình họ; b) Những điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh; c) Cơ hội ngang nhau cho mọi người trong việc được đề bạt lên chức vụ thích hợp cao hơn, chỉ cần xét tới thâm niên và năng lực làm việc; d) Sự nghỉ ngơi, thời gian rảnh rỗi, giới hạn hợp lý số giờ làm việc, những ngày nghỉ thường kỳ được hưởng lương cũng như thù lao cho các ngày nghỉ lễ. [50] Quyền bình đẳng về việc làm, bao gồm quyền làm việc và quyền tự do việc làm là một trong các quyền con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền thế giới.

Quyền làm việc theo nội dung các văn kiện của Liên hợp quốc rất đa dạng và phong phú. Việc làm không những tạo ra thu nhập giúp người lao động nuôi sống bản thân và gia đình mà còn góp phần phát triển xã hội và nhân cách. Chính vì thế, bất cứ một 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự phân biệt đối xử nào trong việc tiếp cận và duy trì công việc đều bị nghiêm trị. Tự do việc làm và lựa chọn việc làm chốg lại lao động cưỡng bức đã trở thành mối quan tâm của thời đại.

Các quốc gia thành viên có nghĩa vụ tôn trọng quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn việc làm, có nghĩa phải đưa ra các biện pháp pháp lý nhằm thực hiện quyền này một cách đầy đủ và hiệu quả. „Chính vì vậy trong luật lao động quốc tế, tự do làm việc và tự do lựa chọn việc làm, chống lại lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc đã trở thành một trong bốn vấn đề cơ bản nhất hiện nay” [49]. “Quyền việc làm là một trong những quyền cơ bản của con người và việc bảo đảm quyền lao động cho công dân là một trong những tiêu chí đánh giá sự tiến bộ của chế độ xã hội. Nhà nước và xã hội có kế hoạch ngày càng tạo nhiều việc làm cho người lao động”[18].

Công dân có sức lao động phải được làm việc để duy trì sự tồn tại của bản thân và góp phần xây dựng xã hội, thực hiện các nghĩa vụ của họ đối với những người xung quanh trong cộng đồng. Do đó, hơn bao giờ hết, quyền việc làm có vai trò hết sức quan trọng và việc tìm hiểu về quyền việc làm có ý nghĩa cả trong lí luận và thực tiễn. Việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu mưu sinh của cá nhân. Con người vì muốn thỏa mãn các nhu cầu của bản thân nên tiến hành các hoạt động lao động nhất định.

Người có việc làm chính là những người hiện đang tham gia các hoạt động đó. Tuy nhiên, con người không sống đơn lẻ và hoạt động lao động của mỗi cá nhân cũng không đơn lẻ mà nằm trong tổng thể các hoạt động của sản xuất xã hội. Do đó, bên cạnh ý nghĩa là vấn đề cá nhân, việc làm còn là vấn đề của cộng đồng, của xã hội. Điều này đòi hỏi phải có những chính sách và biện pháp nhất định từ phù hợp từ phía nhà nước nhằm tăng số lượng việc làm và chất lượng việc làm, đảm bảo đời sống dân cư, kiềm chế nạn thất nghiệp và thông qua đó để giải quyết các vấn đề cửa quốc gia.

10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Việt Nam, trong nền kinh tế thị trường, quan niệm về việc làm và các vấn đề liên quan như thất nghiệp, chính sách việc làm đã có những thay đổi căn bản. Cùng với việc tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế vào hoàn cảnh Việt Nam, BLLĐ đã định nghĩa “việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”[1]. Hiến pháp năm 1992 và điều 35 của Hiến pháp 2013 quy định: 1. Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc; 2.

Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng , an toàn; được hưởng lương , chế đô ̣ nghỉ ngơi; 3. Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu.[18] Cụ thể hóa quyền lao động của công dân, Nhà nước đã ban hành BLLĐ trong đó khẳng định rõ: Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo. Mọi hoạt động tạo ra việc làm, tự tạo việc làm, dạy nghề và học nghề để có việc làm, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh thu hút nhiều lao động đều được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi hoặc giúp đỡ. Người lao động có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm.

Người cần tìm việc làm có quyền trực tiếp liên hệ để tìm việc hoặc đăng ký tại các tổ chức giới thiệu việc làm để tìm việc tuỳ theo nguyện vọng, khả năng, trình độ nghề nghiệp và sức khoẻ của mình. Mọi người có quyền tự do lựa chọn nghề và nơi học nghề phù hợp với nhu cầu việc làm của mình. Người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức giới thiệu việc làm để tuyển chọn lao động, có quyền tăng giảm lao động phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bên cạnh việc ban hành BLLĐ cụ thể hóa quyền lao động, quyền có việc làm của công dân, bảo đảm cho công dân thực hiện tốt quyền của mình theo quy định của Hiến pháp, Nhà nước ta còn ban hành nhiều luật để tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện quyền lao động của công dân như: Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư, Bộ luật dân sự; Luật Thương mại.

Ngoài ra, Nhà nước ta còn đề ra hàng loạt các chương trình phát triển kinh tế xã hội to lớn, đồng bộ với nhiều hoạt động như: Chương trình quốc gia về giải quyết việc làm với những hoạt động (thực hiện quỹ quốc gia tạo việc làm; thành lập các ngân hàng người nghèo; giao quyền sử dụng ruộng đất để khuyến khích trồng rừng, chương trình hỗ trợ đánh bắt xa bờ.) Nhằm bảo đảm quyền lao động cho công dân, Nhà nước đã có một hệ thống các chủ trương, chính sách thông thoáng đã thu hút được sự đầu tư của nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nước ngoài. Các công ty xuyên quốc gia, các công ty liên doanh xuất hiện ngày càng nhiều ở Việt Nam, giải quyết việc làm cho hàng triệu người lao động, giúp người lao động có thu nhập ổn định cuộc sống cho bản thân và đóng góp công sức cho sự phát triển kinh tế đất nước… Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động trên cơ sở đó giải quyết nhu cầu việc làm cho mọi đối tượng lao động. Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động. Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động.

Hiến pháp năm 2013 quy định: Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động. Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quyền Bình Đẳng Việc Làm Trong Pháp Luật Quốc Tế Và Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quyền bình đẳng trong việc làm, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi của người lao động trong bối cảnh toàn cầu hóa. Tài liệu này không chỉ phân tích các quy định pháp luật quốc tế mà còn so sánh với các quy định hiện hành tại Việt Nam, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về những quyền lợi mà họ được hưởng cũng như những thách thức mà họ có thể gặp phải trong quá trình tìm kiếm việc làm.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ thực hiện pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm ở nước ngoài theo hợp đồng tại thị trường Nhật Bản, nơi cung cấp thông tin chi tiết về quyền lợi của người lao động Việt Nam tại nước ngoài. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ VNU LS quyền thành lập và gia nhập công đoàn của người lao động ở Việt Nam hiện nay sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quyền thành lập công đoàn, một yếu tố quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ VNU LS hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của người lao động theo tinh thần của hiến pháp năm 2013 sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về các cải cách pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động theo Hiến pháp 2013. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về quyền bình đẳng trong việc làm và các vấn đề liên quan.