Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÀO CHỮA VÀ BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm thực hiện pháp luật về quyền bào chữa và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trong tố tụng hình sự Việt Nam 1. Khái niệm quyền bào chữa và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trong tố tụng hình sự Việt Nam Quyền bào chữa và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp được xem n ư một trong những quyền con người cơ bản nhất được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế. Văn kiện đầu tiên phải kể đến là Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế 1948, tại Khoản 1 Điều 11: Mọi người bị cáo buộc về hình sự đều có quyền được coi là vô tội c o đến khi chứng minh là phạm tội theo pháp luật, tại một phiên tòa xét xử công k ai nơi người đó được đảm bảo những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình [57].
Tiếp theo, quyền này cũng được quy định tại Điểm b và d, Khoản 3, Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR 1966): 3. Trong quá trình xét xử về một tội hình sự, mọi người đều có quyền được ưởng một các đầy đủ và oàn toàn bìn đẳng những bảo đảm tối thiểu sau đây: [32] b) Có đủ thời gian và điều kiện thuận lợi để chuẩn bị bào chữa và liên hệ với người bào chữa do chính mình lựa chọn;/ [32] d) Được có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc thông qua sự trợ giúp pháp lý theo sự lựa chọn của mìn ; được thông báo về quyền này nếu c ưa có sự trợ giúp p áp lý; và được nhận sự trợ giúp pháp lý theo chỉ định trong 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trường hợp lợi ích của công lý đòi ỏi và không phải trả tiền cho sự trợ giúp đó nếu k ông có đủ điều kiện trả [32]. Uỷ ban nhân quyền đã làm rõ t êm Điều 14 của Công ước ICCPR 1966 thông qua Bình luận chung số 13 tại phiên họp lần thứ 21 năm 1984: Việc xác định thời gian thích hợp để người bị buộc tội có thể chuẩn bị bào chữa và liên hệ với luật sư p ụ thuộc vào hoàn cảnh của mỗi vụ án, còn việc dành cho họ điều kiện thuận lợi trong vấn đề này thì liên quan đến các yếu tố n ư: Hoạt động thu thập tài liệu và bằng chứng cần cho việc bào chữa cơ ội hiểu và tiếp xúc với luật sư [12, tr. 215] Hội nghị lần thứ tám về Phòng chống tội phạm và xử lý người phạm tội của Liên hợp quốc ngày 27/8 đến 7/9/1990 đã t ông qua “Các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư” trong đó có quy định: Mọi người đề có quyền yêu cầu sự giúp đỡ của luật sư t eo sự lựa chọn của mình nhằm thiết lập và bảo vệ các quyền đó của mình trong mọi giai đoạn của tố tụng hình sự [68, tr.
Không chỉ quy định về quyền bào chữa các công ước quốc tế cũng đề cập đến vấn đề cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho những người không có khả năng c i trả [32]. Tuy nhiên, xét trên thực tế sự phát triển của các quốc gia trên thế giới k ông đồng đều nên quy phạm này được xem xét áp dụng trong từng trường hợp cụ thể đối với từng quốc gia cụ thể. Báo cáo Quyền bào chữa trong pháp luật hình sự và thực tiễn tại Việt Nam của C ương trìn p át triển Liên hợp quốc (UNDP) đã c ỉ ra chín quyền cấu thành quyền bào chữa trong luật pháp về nhân quyền quốc tế [74, tr.14]: - Quyền được có người bào chữa do mình lựa chọn; - Quyền bào chữa thông qua trợ giúp pháp lý; - Quyền được có đủ thời gian để chuẩn bị cho phiên tòa, bao gồm tiếp xúc với người bào chữa; 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Quyền được tạm hoãn thủ tục tố tụng để được tham vấn luật sư; - Quyền được tự bào chữa; - Quyền bào chữa là hành vi bảo vệ quyền lợi của bị cáo; - Quyền được giao tiếp bí mật với luật sư; - Quyền không phải tiến hành tố tụng với luật sư bào c ữa là người k ông đủ năng lực hoặc thiếu cẩn thận trong khi bị can, bị cáo đã có luật sư p ù ợp; ướng đến việc bãi bỏ sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm của mình. - Quyền bào chữa trong tất cả các giai đoạn tố tụng đối với hình phạt án tử hình.
T eo giáo sư người Nga M. Xtrô-gô-Vích, quyền bào chữa là “Tổng hòa các hành vi tố tụng hướng tới việc bãi bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc làm giảm trách nhiệm pháp lý của bị can.” Ngoài ra, học giả này cũng c o rằng: Quyền bào chữa của bị can bị cáo là tất cả những quyền năng tố tụng mà pháp luật quy định cho bị can, bị cáo để bảo vệ mọi sự buộc tội và được bị can bị cáo sử dụng để bãi bỏ sự buộc tội để đưa ra các lý lẽ và chứng cứ trong việc biện minh hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình [20, tr. Có thể thấy, theo học giả trên cho rằng chủ thể thực hiện quyền bào chữa là bị can và quyền này được thực hiện thông qua các quyền tố tụng mà pháp luật quy địn để ướng đến việc hủy bỏ sự buộc tội hoặc làm hạ trách nhiệm của mìn. Tuy n iên quan điểm này c ưa được thừa nhận rộng rãi bởi các nhà khoa học và giới luật gia.
Một quan điểm k ác được học giả P .P atkulin trìn bày n ư sau: Bào chữa không chỉ thể hiện trong các hành vi tố tụng, nó còn thể hiện trong các quan hệ tố tụng phù hợp với chúng. Bào chữa không 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chỉ dừng lại ở việc bác bỏ một phần hay toàn bộ, buộc tội và đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của người bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nó thậm c được thể hiện trong việc đảm bảo các quyền và lợi c được pháp luật được bảo vệ của bị can kể cả khi chúng không trực tiếp liên liên quan tới việc làm giảm trách nhiệm của bị can trong vụ án. T eo quan điểm này của tác giả thì phạm vi quyền bào chữa mở rộng ra rất nhiều ng ĩa là từ khi sự vi phạm bắt đầu diễn ra, mặc dù chỉ là những lỗi àn c n t ông t ường, quyền bào chữa v n được bảo đảm thực hiện.
Tựu trung lại, ta có thể đưa ra địn ng ĩa n ư sau về quyền bào chữa và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp n ư sau: Quyền bào chữa và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp là tổng thể các quyền mà pháp luật quy định đương sự có thể sử dụng nhằm bác bỏ toàn bộ hoặc một phần sự buộc tội của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với họ. Quyền này còn được thể hiện thông qua việc đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình tố tụng. Khái niệm thực hiện pháp luật về quyền bào chữa và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trong tố tụng hình sự Việt Nam Khoản 1 điều 2 Hiến p áp nước Cộng hòa xã hội chủ ng ĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Một trong những yếu tố quan trọng nhất để xây dựng được một nhà nước pháp quyền là phải có một hệ thống pháp luật công bằng n ân văn ợp lẽ phải, sự hài hòa các lợi c đặc biệt là bảo vệ, bảo đảm quyền, tự do, lợi c c n đáng của cá nhân, công dân.
Tuy nhiên, bên cạnh việc xây dựng hệ thống pháp luật n ư trên n à nước cần phải đảm bảo hệ thống pháp luật đó có thể được thực hiện trên thực tiễn. Pháp luật chỉ thực sự có ý ng ĩa k i nó được thực hiện một cách có hiệu quả trong đời sống xã hội. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thực hiện pháp luật là vấn đề cơ bản được đề cập đến khi nghiên cứu về pháp luật nói chung và các ngành luật chuyên ngành khác nói riêng. Thực hiện pháp luật là quá trình bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của các các nhân, tổ chức nhằm đưa p áp luật vào đời sống thực tiễn đồng thời hiện thực hóa những quy định, nguyên tắc pháp luật vào các trường hợp cụ thể.
Đây là một vấn đề rộng lớn, phức tạp cần có sự tham gia của đa dạng chủ thể khác nhau [46, tr. N ư trìn bày ở trên, thực hiện pháp luật là các hành vi xã hội của các chủ thể nhằm hiện thực hóa các quy định của phá luật vào trong thực tiễn. Bản chất của thực hiện pháp luật là chuyển hóa các yêu cầu của pháp luật vào trong hành vi cụ thể của các chủ thể [72, tr. Thực hiện pháp luật được thể hiện dựa trên hai hình thức àn động hoặc k ông àn động.
Đối với hình thức àn động, chủ thể chủ động thực hiện một àn vi được pháp luật cho phép hoặc không cấm; đối với hình thức k ông àn động, chủ thể không thực hiện một hành vi mà pháp luật cấm. Với vai trò to lớn kể trên, thực hiện pháp luật thực sự là ng ĩa vụ của mọi đối tượng, chủ thể trong xã hội. Trong mối liên hệ giữa pháp luật và nhà nước, thực hiện pháp luật là một trong những hình thức thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý xã hội. Để quản lý xã hội n à nước phải tiến hành xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện c úng trong đời sống thực tế, làm cho những yêu cầu quy định của pháp luật trở thành hiện thực.
Đối với cá nhân, tổ chức p i n à nước khác thì thực hiện pháp luật là hoạt động sự dụng các quyền ng ĩa vụ của mình [16, tr. Đồng thời tôn trọng quyền và ng ĩa vụ của người, tổ chức khác. - Thực hiện pháp luật thực chất là đưa các qui định của pháp luật vào đời sống thực tế, do vậy, thực hiện pháp Là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Hành vi của chủ thể pháp luật có thế tồn tại dưới dạng àn động 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoặc k ông àn động.