Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước Các công trình nghiên cứu về CNTT của Nga điển hình như: “Buộc tội nhà nước tại phiên tòa” của V.Xavitxki (1971), “Tố tụng hình sự Xô Viết” của M.Chen Xốp (1978), “Bản chất của luật tố tụng hình sự Xô Viết” của P. Các công trình nghiên cứu này có đề cập nghiên cứu một số vấn đề mang tính nền tảng, lý luận cơ bản về khái niệm chức năng của TTHS, CNTT và tranh tụng, vị trí và vai trò của các chức năng TTHS. Cuốn “Giáo trình Tố tụng hình sự” của K.Grusencô (2000) đã đi vào phân tích cụ thể nội dung của CNBT, sự hình thành CNBT trong giai đoạn điều tra.
Bên cạnh đó, còn khẳng định vai trò của CQĐT trong việc thực hiện sự buộc tội. Các công trình tiêu biểu ở Mỹ, Anh và một số nước Châu Âu về CNTT bao gồm: “Đặt lại vấn đề về chức năng của Tố tụng hình sự” của Peter Arenella, Mỹ (1983), “Mô hình và chức năng của TTHS Trung Quốc” của Stanley Lubman (Tạp chí Luật, Columbia, 1979), hoặc tác phẩm “Mục đích của nền tư pháp hình sự” của Richard Garside (Trung tâm nghiên cứu tội phạm học và công lý, Anh, 2008). Các công trình này chủ yếu đề cập nghiên cứu chức năng của TTHS theo từng mô hình tố tụng và đặt lại vấn đề liệu các chức năng của TTHS có phải chỉ bao gồm 3 chức năng chính là CNBT, CNBC, CNXX hay không. Một số công trình nghiên cứu về các cơ quan công tố và hoạt động công tố như: Luận án “Công tố viên trong Tố tụng hình sự của Liên bang Nga: Hệ thống chức năng và quyền hạn” của tác giả Tushev, Aleksandr Aleksandrovich.
Luận án đã phân tích sự cần thiết phải có sự tham gia của công tố viên vào quá trình tố tụng; làm rõ chức năng, quyền hạn của công tố viên trong TTHS, trong đó có chức năng, quyền hạn của công tố viên trong các giai đoạn trước khi xét xử của quá trình tố tụng; Luận án“Quyền hạn của công tố viên và việc thực hiện chúng trong quá trình tranh tụng” của tác giả Trofimov, Vyacheslav Olegovich. Luận án đã phân tích làm rõ khái niệm 10 và nội dung quyền hạn của công tố viên (KSV) trong TTHS; nguyên tắc tranh tụng và vai trò của nó trong việc thực hiện quyền của công tố viên; Luận án Tiến sĩ của Tony Paul Marguery (2008) "Unity and diversity of the public prosecution services in Europe. A study of the Czech, Dutch, French and Polish systems" (PhD thesis, The University of Groningen) nghiên cứu về sự thống nhất và đa dạng của các cơ quan công tố tại châu Âu, gồm các nước Pháp, Hà Lan, Ba Lan và Cộng hòa Séc; Luận án Tiến sĩ của Dr Despina Kyprianou (2008) "Comparative Analysis of Prosecution System (Part II): The Role of Prosecution Services in Investigation and Prosecution Principles and Policies, Cyprus and European Law Review" nghiên cứu về vai trò của cơ quan công tố trong hoạt động điều tra, những nguyên tắc và chính sách công tố trong hoạt động điều tra tại nhóm các quốc gia theo truyền thống luật án lệ và nhóm các quốc gia theo truyền thống pháp luật châu Âu lục địa. Một số công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa công tố và cảnh sát ở một số nước đã được nghiên cứu trong Báo cáo thảo luận nhóm tại Hội nghị quan chức cấp cao lần thứ 120 của Viện Phòng ngừa và Xử lý tội phạm tại khu vực Châu Á và Viễn Đông của Liên Hiệp Quốc: UNAFEI (1997): The Relationship of the Prosecution with the Police and Investigative Responsibility (Group Discussion Report at the 107th UNAFEI International Training Course); Báo cáo thảo luận nhóm: UNAFEI (2002) Cooperation between the Police and the Prosecutors (Group Discussion Report at the 120th UNAFEI International Senior Seminar); “Nghiên cứu tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp của Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a, Nhật Bản, Hàn Quốc và Nga” (2011) của các tác giả: PGS, TS.
Simon Butt, PGS, TS. Luke Nottage, GS. Kent Anderson, GS. Makoto Ibusuki, GS.
David Johnson, GS. Byung - Sun Cho, GS. Tom Ginsburg, GS. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan tới đề tài luận án khá đa dạng, là nguồn tư liệu giúp NCS nghiên cứu, so sánh trong quá trình làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn về CNBT trong khởi tố, điều tra VAHS tại Việt Nam.
Tuy nhiên, do khó khăn trong việc tiếp cận các tài liệu và hạn chế nhất định về ngôn ngữ nên khó có thể nắm bắt đầy đủ, chính xác nội dung của các công 11 trình này nên trong luận án, NCS chủ yếu dừng lại ở việc giới thiệu sơ lược về một số công trình của một số nước như trên. Tình hình nghiên cứu ở trong nước Bên cạnh các công trình nghiên cứu trên thế giới về CNTT nói chung, CNBT nói riêng, ở trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này ở những bình diện khác nhau. Trong đó có thể hệ thống thành các nhóm công trình sau: - Nhóm các công trình nghiên cứu về chức năng tố tụng nói chung gồm các công trình sau: + Luận án tiến sĩ “Các chức năng trong Tố tụng hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng (2012). Luận án nghiên cứu về các chức năng cơ bản của TTHS, đưa ra các khái niệm về CNTT, các chức năng cơ bản của TTHS, phân tích nội dung của các chức năng cơ bản của TTHS: CNBT, CNBC, CNXX, mối quan hệ giữa mô hình tố tụng và các CNTT.
Từ việc nghiên cứu đó, công trình khảo sát thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến thời điểm nghiên cứu của đề tài, chỉ ra những bất cập, hạn chế và các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về CNTT. + Đề tài khoa học cấp bộ “các chức năng của Tố tụng hình sự trong bối cảnh cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay” (2016) do TS. Đinh Thị Mai làm chủ nhiệm. Đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận của CNTT, lý thuyết về CNTT, vai trò, ý nghĩa, nội hàm, phạm vi và giới hạn của các CNTT; xác định nội dung và chủ thể thực hiện các chức năng tương ứng trong TTHS; mối quan hệ giữa các CNTT với nội dung, cách thức thực hiện chiến lược Cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.
+ Các bài tham luận trong Hội thảo khoa học “Các chức năng Tố tụng hình sự Việt Nam trong bối cảnh cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay”do Học viện Khoa học xã hội tổ chức tháng 11/2015 gồm: Bài“Lý thuyết chức năng và một số vấn đề đổi mới nhận thức về các chức năng của Tố tụng hình sự Việt Nam” của TS Đinh Thị Mai. Trong bài viết này, tác giả đưa ra các cách tiếp cận khá mới mẻ về chức năng TTHS dựa trên lý thuyết chức năng luận; Bài“Chức năng Tố tụng hình sự và vấn đề hoàn thiện mô hình Tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay” của PGS.TS Nguyễn Thái Phúc với 12 hướng tiếp cận CNTT xuất phát từ việc nghiên cứu chức năng nhà nước, từ đó dẫn dắt đến CNTT, phân tích mối quan hệ chức năng với các hoạt động tố tụng. Tác giả đã lý giải sự khác biệt giữa CNTT của chủ thể hoạt động tố tụng với thẩm quyền của chủ thể đó. Đồng thời, tác giả còn phân tích các loại CNTT, chỉ ra các mô hình TTHS trên thế giới một cách khá đầy đủ và mối liên hệ giữa CNTT với mô hình tố tụng, đề xuất các giải pháp hoàn thiện mô hình tố tụng Việt Nam.
Trong các giải pháp đó, tác giả đặt ra vấn đề cần phải tách bạch về chức năng của các chủ thể tố tụng, lấy tiêu chí là CNTT để phân loại các chủ thể tố tụng. Đồng tình với quan điểm này, PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí trong bài viết “Các chức năng của Tố tụng hình sự và vấn đề cải cách thiết chế - bộ máy các cơ quan tư pháp ở Việt Nam” cho rằng: để thực hiện chức năng cơ bản, đòi hỏi phải có những chủ thể tương ứng của tố tụng theo những cách phân định khác nhau và phân định chủ thể tố tụng dựa vào chức năng cơ bản của TTHS. Trên cơ sở đó, để thực hiện các chức năng cơ bản của TTHS, tác giả đề xuất các giải pháp cải cách các thiết chế tư pháp như: Tòa án, VKS và CQĐT. + Bài viết “chức năng của Tố tụng hình sự và mối quan hệ với mô hình Tố tụng hình sự” của TS Đinh Thị Mai đăng trong kỷ yếu tọa đàm khoa học “mô hình Tố tụng hình sự Việt Nam theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và những vấn đề đặt ra đối với công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay” do Tạp chí công an nhân dân chủ trì tháng 4/2017.
Bài viết đã phân tích làm rõ mối quan hệ giữa chức năng TTHS với mô hình TTHS, đề cập đến chức năng TTHS của một số quốc gia trên thế giới. Nhận xét: Nhóm các công trình này đã nghiên cứu một cách tổng thể về CNTT, có giá trị khoa học quan trọng trong việc xây dựng khung lý luận chung về CNTT. Tuy nhiên, với cách tiếp cận nghiên cứu tổng thể các CNTT, các công trình khoa học này chưa đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ nội hàm CNBT trong TTHS nói chung và trong khởi tố, điều tra VAHS nói riêng. - Nhóm công trình nghiên cứu về các chức năng tố tụng khác trong mối quan hệ với chức năng buộc tội + Luận văn thạc sĩ “Chức năng bào chữa trong Tố tụng hình sự” của Trần 13 Hoàng Lâm (2007).
Luận văn phân tích lịch sử phát triển của CNBC và quy định của pháp luật về CNBC theo BLTTHS 2003, khẳng định chủ thể thực hiện CNBC là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bào chữa, quyền và nghĩa vụ pháp lý theo quy định của pháp luật. Tác giả phân tích các quy định của pháp luật về CNBC theo từng giai đoạn cụ thể, từ đó, đưa ra các biện pháp bảo đảm CNBC trong TTHS Việt Nam. + Luận án tiến sĩ “Chức năng xét xử trong Tố tụng hình sự” của tác giả Lê Tiến Châu (2008). Luận án có cách tiếp cận khoa học trong việc phân tích, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về chức năng TTHS nói chung và CNXX nói riêng; vị trí và vai trò của CNXX trong các mô hình TTHS; những biểu hiện thể hiện nội dung của CNXX trong các quy định của pháp luật.
+ Luận án “Chức năng bào chữa trong Tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Cao Thị Ngọc Hà (2019).