MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Rau là loại thực phẩm không thể thiếu được trong đời sống hằng ngày. Cùng với thức ăn động vật, rau cung cấp những dinh dưỡng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người, đặc biệt là các loại rau tươi sống rất tốt cho hệ tiêu hóa, cung cấp nhiều Vitamin A và Vitamin C. Do vậy mà nhu cầu ăn các loại rau sống, sạch và tươi ngày càng tăng, nhất là vào những ngày thời tiết mát mẻ thì nhu cầu tiêu thụ rau tươi ở các nhà hàng, quán ăn, quán lẩu…vv, rất lớn.
Tuy nhiên những năm gần đây, hiện tượng ngộ độc do ăn phải rau nhiễm thuốc bảo vệ thực vật ngày càng nhiều và đây cũng chính là những vấn đề nóng hiện nay đang được dư luận giới báo chí và xã hội rất quan tâm. Ngoài những trường hợp gây ngộ độc cấp tính dẫn đến tử vong dễ nhận biết, còn các ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe cho mọi người vẫn chưa lường hết được. Những thông tin và tình trạng ngộ độc do dư lượng thuốc trừ sâu trong rau khiến người tiêu dùng hoang mang khi phải lựa chọn thực phẩm an toàn trên thị trường. Rau an toàn thật sự là một nhu cầu cấp thiết của người tiêu dùng.
Những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cả loại rau ăn củ, thân, lá, hoa quả) có chất lượng đúng như đặc tính giống của nó, hàm lượng các hóa chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường, thì được coi là rau an toàn. Để có sản phẩm rau an toàn tới người tiêu dùng cần phải giải bài toán có nhiều ẩn số: kỹ thuật, kinh tế, xã hội (thay đổi tập quán canh tác và tiêu thụ) và quản lý nhà nước. Trước mắt, người sản xuất cần chú ý một số vấn đề khi sản xuất rau an toàn như kỹ thuật, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng cách, phải đảm bảo an toàn đới với người sử dụng và môi trường cũng như người tiêu thụ. Được biết Nhật Bản là một trong những nước có nền nông nghiệp tiên tiến nhất thế giới, có các quy trình kĩ thuật sản xuất nông nghiệp hiện đại, hình m 2 thức quản lý chặt chẽ từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩn.
Vì muốn học hỏi được các quy trình kĩ thuật sản xuất nông nghiệp hiện đại để tạo ta các sản phẩm nông nghiệp an toàn cho người sử dụng, thân thiện với môi trường, nên tôi đã chọn Đề tài “Tìm hiểu quy trình sản xuất rau cải thảo an toàn Tại làng Kawakami, huyện Minamisaku, tỉnh Nagano Nhật Bản”. Mục tiêu của đề tài - Nắm được quy trình kỹ thuật sản xuất rau tại làng Kawakami. - Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng các loại rau tại làng Kawakami. - Đánh giá việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất rau tại làng Kawakami.
- Tiếp thu những kiến thức về kỹ thuật, công nghệ cao của nền nông nghiệp tiên tiến Nhật Bản và ứng dụng những kiến thức đó vào trong sản xuất ở Việt Nam. - Phân tích lợi nhuận, giá trị kinh tế của sản phẩm đem lại thông qua số liệu hàng năm của nông trại. - Đưa ra các giải pháp, cách thức phù hợp nhất để có khả năng áp dụng mô hình sản xuất đó vào Việt Nam. Địa điểm và thời gian thực tập - Tại nông trại Fuyuhiko Hayashi, làng Kawakami, huyện Minamisaku, tỉnh Nagano Nhật Bản”.
- Thời gian thực tập: Từ ngày 8/6/2019 đến 13/11/2019. Phương pháp thực hiện - Phương pháp quan sát thực tiễn: Quan sát thực tế mô hình sản xuất, chi tiết quy trình sản xuất tại cơ sở thực tập. - Phương pháp thu thập thông tin: Trực tiếp thu thập các thông tin bổ ích tại nông trại, cơ sở thực tập, đồng thời thu thập các thông tin trên sách, báo, internet. Ý nghĩa của để tài nghiên cứu - Cung cấp các thông tin, kiến thức về một nền nông nghiệp công nghệ cao của đất nước Nhật Bản.
- Củng cố những kiến thức tốt nhất giúp sinh viên làm quen với công việc trải nghiệm thực tế tại nước ngoài. Quá trình thực tập tốt nghiệp trải nghiệm tại nước ngoài có thể nói đó là một cơ hội rất tốt, để cho sinh viên có được những điều kiện tốt nhất tìm hiểu và học hỏi những kiến thức về một nền nông nghiệp công nghệ cao, giúp cho sinh viên củng cố thêm những kiến thức mới, những kỹ năng mới và cách thức vận hành trong công việc của người nước ngoài. Đồng thời có thể vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm đó vào từng điều kiện cụ thể trên thực tế. - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở, tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu liên quan, cung cấp các thông tin về sản xuất rau sạch theo quy trình công nghệ cao của Nhật Bản, khắc phục những tồn tại yếu kém trong việc sản xuất rau sạch an toàn.
- Cung cấp thông tin về những giải pháp cụ thể thực tiễn trong việc cải tạo môi trường đất, nước, không khí… để làm sao tránh ảnh hưởng đến môi trường xung quanh một cách đáng kể nhất trong quá trình sản xuất. m 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc, phân loại, yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh và đặc điểm thực vật học của cây rau cải thảo 2. Nguồn gốc và phân loại 2.
Nguồn gốc Cải thảo còn được gọi là cải bao, cải cuốn, cải bắp tây (Tên khoa học là: Brassica pekinensis Rupr), thuộc họ cải, có nguồn gốc từ Trung Quốc, được sử dụng rộng rãi trong các món ăn ở Đông Nam Á và Đông Á. Loài thực vật này trồng nhiều ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam. nhưng cũng có thể bắt gặp ở Bắc Mỹ, châu Âu, Úc, New Zealand. Cải thảo có màu sắc khá giống với cải bắp, phần lá bao ngoài có màu xanh đậm, còn lá cuộn ở bên trong (gọi là lá non) có màu xanh nhạt, trong khi phần cuống lá có màu trắng, viền lá màu xanh lục.
Cải thảo có hoa màu trắng, hạt màu nâu hạt dẻ. Lá không lông, có khi ở mặt dưới trên gân chính có lông. Lá chụm ở đất, nhiều, hình bầu dục hoặc trứng lộn ngược, đầu tròn, mép gợn sóng, có khi có răng không rõ, đầu giữa rộng màu trắng, gân bên thô và nhiều. Phân loại - Cải thảo (Brassica rapa subsp.
pekinensis) thuộc: + Giới (Plantae). - Dựa theo hình dạng, kích thước và các tổ chức của bắp đã phân Cải thảo thành 3 nhóm chính sau: m 5 + Brassica campestris var. cephalata: Đây là nhóm có bắp cải với hình dạng khác nhau, chồi cuối phát triển mạnh, đỉnh bắp có thể phẳng, tròn hoặc lồi, bắp có hình trứng ngược, hình trái xoan. + Brassica campestris var.
cylindrical: Đây là nhóm có bắp chặt hình dài thẳng đứng, có thể có hoặc không có các lá cuộn trên đỉnh. Bắp hơi nhọn phía trên đỉnh. + Brassica campestris var. laxa: Đây là nhóm có bắp mở, không chặt, có màu vàng hoặc trắng vàng.
Trên đỉnh và viền phía trên bắp có thể thẳng hoặc hơi cong ra ngoài. - Ngoài ra còn có sự khác nhau về thời gian sinh trưởng, trọng lượng bắp, độ chặt bắp, số lượng lá và màu sắc lá… Các giống khác nhau có thời gian sinh trưởng cũng khác nhau và dao động từ 55 – 110 ngày tính từ khi gieo đến lúc thu hoạch sản phẩm. Số lượng lá của các giống cũng khác nhau chúng dao động từ 20 đến 150 lá/cây. Thậm chí ngay cả hệ rễ cũng có trọng lượng khác nhau, từ vài gram cho đến 10kg ở một số giống.
Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh 2. Nhiệt độ Điều kiện nhiệt độ ôn hòa là thích hợp nhất cho cây rau cải thảo sinh trưởng và phát triển. Để nẩy mầm và khi các lá chưa cuốn cần nhiệt độ là 22℃, còn khi đã hình thành bắp thì cần nhiệt độ thấp hơn, chỉ từ 16 - 20℃. Biên độ nhiệt ngày đêm chênh lệch thuận lợi cho quá trình tạo bắp và phụ thuộc rất nhiều vào giống.
Ánh sáng Cường độ ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng của lá và sự hình thành bắp. Cường độ ánh sáng lớn kích thích sự tăng kích thước của lá và sự hình thành bắp. Ẩm độ Ẩm độ ảnh hưởng đến sự hình thành cũng như tăng trưởng của bắp. Cải m 6 thảo là một cây ăn lá, vì hơn 90% trọng lượng tươi là nước, do vậy nó cần đảm bảo đủ độ ẩn đồng ruộng thường xuyên từ 60 – 85%.
Nước ảnh hưởng suốt cả quá trình sinh trưởng, nhưng ảnh hưởng mạnh nhất là ở giai đoạn hình thành và phát triển bắp. Vào giai đoạn nở hoa ẩm độ thích hợp nhất là 60 – 70%, còn hình thành hạt là 50 – 60%. Độ ẩm đồng ruộng thích hợp là 70 – 80%. Đất và dinh dưỡng Cải thảo sinh trưởng tốt trên đất thịt nhẹ hoặc đất pha cát có độ màu mỡ cao.
Đạm là yếu tố cần thiết cho sự sinh trưởng của lá, cũng như sự hình thành và lớn lên của bắp. Canxi là yếu tố quan trọng thứ 2 sau đạm, đặc biệt là giai đoạn này sẽ gây ra hiện tượng cháy đỉnh bắp nếu thiếu canxi. Có thể trồng cây cải thảo trên các loại đất khác nhau hoặc đất thịt nhẹ, pH thích hợp 5,5 – 6. Tự gieo cây giống hoặc mua cây giống từ những vườn ươm đủ tiêu chuẩn, có uy tín.
Đất trồng cây phải tơi xốp, nhẹ, nhiều mùn, tầng canh tác dày, thoát nước tốt. Làm đất kỹ, nhặt sạch cỏ dại, rải vôi, tưới nước trước khi cày xới để diệt một số nấm hại trên mặt đất tồn tại từ các vụ trước. Cày xới độ sâu 20 – 25cm, phơi ải trong 1 – 2 tuần, dùng thuốc xử lý đất trước khi trồng cây ít nhất 15 ngày để hạn chế sâu, bệnh hại. Sau đó bón phân lót cày lần cuối.
Lên luống rộng 1,2 – 1,5m; rãnh rộng 30 – 40cm, cao 20 – 25cm đối với vụ xuân hè hoặc 15 – 20cm đối với vụ thu đông. Lượng phân bón (tính cho 1.000m2): Phân chuồng hoai mục 2 – 2,5 tấn, đạm urê 25 – 30kg, supe lân 40 – 50kg, KCl 13 – 15kg. Nếu đất chua (độ pH< 6) bón thêm 50 – 70kg vôi bột trước khi bừa lần cuối. Bón phân lót toàn bộ phân chuồng, phân lân + 1/4 lượng đạm và kali.
Trộn đều phân rồi cấy cây giống. Bón thúc lần 1 khi cây bén rễ hồi xanh (khoảng 10 ngày sau trồng) 1/4 đạm, kali. Bón thúc lần 2 khi lá cây bắt đầu vào cuốn bón (25 ngày sau trồng) 1/4 phân đạm và kali.