Luận văn thực hiện quy trình sản xuất giống cá lăng chấm hemibagrus guttatus lacépede 1803 bằng phương pháp sinh sản nhân tạo tại trung tâm thủy sản tuyên quang

Luận văn nghiên cứu quy trình sản xuất giống cá lăng chấm Hemibagrus guttatus bằng phương pháp sinh sản nhân tạo tại Trung tâm Thủy sản Tuyên Quang.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp đại học

2017

58
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.1.1. Mục đích nghiên cứu

1.1.2. Mục tiêu nghiên cứu

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Điều kiện cơ sở thực tập

2.1.1. Vị trí địa lý tỉnh Tuyên Quang

2.1.2. Khái quát về Trung tâm Thủy sản

2.1.2.1. Khái quát chung
2.1.2.2. Cơ cấu tổ chức
2.1.2.3. Chức năng nhiệm vụ của Trung tâm
2.1.2.4. Hoạt động của Trung tâm

2.1.3. Cơ sở khoa học

2.1.4. Đặc điểm sinh học

2.1.5. Nghiên cứu về sản xuất giống

2.1.6. Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.1.7. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.1.7.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
2.1.7.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

3. PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu

3.1.2. Phạm vi nghiên cứu

3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành

3.2.1. Địa điểm nghiên cứu

3.2.2. Thời gian nghiên cứu

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.3.1. Quy trình kĩ thuật sản xuất giống cá lăng chấm

3.3.2. Quản lý và chăm sóc cá bố mẹ

3.3.2.1. Chuẩn bị vật tư, trang thiết bị phục vụ cho đẻ

3.3.3. Sinh sản nhân tạo cá Lăng chấm

3.3.4. Ương nuôi cá giống

3.3.5. Một số bệnh thường gặp và cách phòng trị bệnh

3.3.6. Phương pháp nghiên cứu

3.3.7. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả chăm sóc, quản lý cá Lăng chấm bố mẹ

4.1.1. Quản lý và chăm sóc cá bố mẹ

4.1.2. Chế độ chăm sóc và quản lý cá bố mẹ

4.1.3. Sinh sản nhân tạo các lăng chấm

4.1.4. Kết quả ương nuôi cá bột lên cá hương 15 ngày tuổi

4.1.5. Ương nuôi từ cá hương 15 ngày tuổi lên cá hương 30 ngày tuổi

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Quy trình sản xuất giống cá lăng chấm

Quy trình sản xuất giống cá lăng chấm được thực hiện tại Trung tâm Thủy sản Tuyên Quang, tập trung vào việc áp dụng phương pháp sinh sản nhân tạo. Quy trình này bao gồm các bước chính như chọn lọc cá bố mẹ, nuôi vỗ, kích thích sinh sản, ấp trứng và ương nuôi cá giống. Cá bố mẹ được chọn lọc kỹ lưỡng dựa trên tiêu chí về sức khỏe, kích thước và khả năng sinh sản. Quá trình nuôi vỗ được thực hiện trong môi trường ao nuôi với chế độ dinh dưỡng và quản lý nước nghiêm ngặt. Kích thích sinh sản được thực hiện bằng cách sử dụng hormone HCG và LRH-a, giúp cá đẻ trứng trong điều kiện nhân tạo. Trứng sau khi đẻ được ấp trong bể ấp với nhiệt độ và độ pH được kiểm soát chặt chẽ. Cá bột sau khi nở được ương nuôi trong bể hoặc ao với chế độ chăm sóc đặc biệt để đảm bảo tỷ lệ sống cao.

1.1. Chọn lọc và nuôi vỗ cá bố mẹ

Cá bố mẹ được chọn lọc từ đàn cá có chất lượng tốt, đảm bảo sức khỏe và khả năng sinh sản. Quá trình nuôi vỗ kéo dài từ 3-4 tháng, trong đó cá được cung cấp thức ăn giàu dinh dưỡng và môi trường nước được quản lý chặt chẽ. Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ pH, oxy hòa tan được theo dõi thường xuyên để đảm bảo điều kiện tối ưu cho cá phát triển.

1.2. Kích thích sinh sản và ấp trứng

Kích thích sinh sản được thực hiện bằng cách tiêm hormone HCG và LRH-a vào cá bố mẹ. Sau khi tiêm, cá được theo dõi chặt chẽ để xác định thời điểm đẻ trứng. Trứng sau khi đẻ được thu thập và đưa vào bể ấp với nhiệt độ duy trì ở mức 28-30°C và độ pH từ 6.5-7.5. Quá trình ấp trứng kéo dài khoảng 24-36 giờ, sau đó cá bột nở và được chuyển sang bể ương nuôi.

II. Phương pháp sinh sản nhân tạo

Phương pháp sinh sản nhân tạo được áp dụng để sản xuất giống cá lăng chấm tại Tuyên Quang, nhằm đảm bảo nguồn giống chất lượng cao và bảo tồn loài cá quý hiếm này. Phương pháp này bao gồm việc sử dụng hormone để kích thích cá đẻ trứng trong điều kiện nhân tạo, giúp kiểm soát được số lượng và chất lượng trứng. Quá trình sinh sản nhân tạo được thực hiện trong môi trường được kiểm soát chặt chẽ, từ nhiệt độ, độ pH đến nồng độ oxy hòa tan. Điều này giúp tăng tỷ lệ thành công trong việc sản xuất giống cá lăng chấm, đồng thời giảm thiểu rủi ro từ các yếu tố môi trường bên ngoài.

2.1. Sử dụng hormone trong sinh sản nhân tạo

Hormone HCG và LRH-a được sử dụng để kích thích cá đẻ trứng. Liều lượng và thời điểm tiêm hormone được tính toán kỹ lưỡng dựa trên đặc điểm sinh học của cá lăng chấm. Việc sử dụng hormone giúp đồng bộ hóa quá trình đẻ trứng, tăng tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở của trứng.

2.2. Quản lý môi trường sinh sản

Môi trường sinh sản được kiểm soát chặt chẽ với nhiệt độ duy trì ở mức 28-30°C, độ pH từ 6.5-7.5 và nồng độ oxy hòa tan trên 5 mg/l. Các yếu tố này được theo dõi liên tục để đảm bảo điều kiện tối ưu cho quá trình sinh sản và ấp trứng.

III. Kỹ thuật nuôi cá lăng chấm

Kỹ thuật nuôi cá lăng chấm tại Tuyên Quang tập trung vào việc quản lý môi trường nuôi và chế độ dinh dưỡng để đảm bảo sự phát triển tối ưu của cá. Cá được nuôi trong ao hoặc bể với mật độ thả phù hợp, tránh tình trạng quá tải gây stress cho cá. Thức ăn được cung cấp đầy đủ và cân đối về dinh dưỡng, bao gồm cả thức ăn tự nhiên và thức ăn công nghiệp. Quá trình nuôi được theo dõi thường xuyên để phát hiện và xử lý kịp thời các vấn đề về sức khỏe của cá, đảm bảo tỷ lệ sống cao và chất lượng cá giống tốt.

3.1. Quản lý môi trường nuôi

Môi trường nuôi cá lăng chấm được quản lý chặt chẽ với các yếu tố như nhiệt độ, độ pH, nồng độ oxy hòa tan và độ kiềm được duy trì ở mức tối ưu. Việc thay nước định kỳ và sử dụng hệ thống sục khí giúp duy trì chất lượng nước, tạo điều kiện thuận lợi cho cá phát triển.

3.2. Chế độ dinh dưỡng

Cá lăng chấm được cung cấp thức ăn giàu protein và các chất dinh dưỡng cần thiết. Thức ăn được chia thành nhiều bữa nhỏ trong ngày để đảm bảo cá hấp thụ tốt nhất. Ngoài ra, thức ăn tự nhiên như giun, ấu trùng cũng được bổ sung để tăng cường sức khỏe và khả năng miễn dịch của cá.

02/03/2025
Luận văn thực hiện quy trình sản xuất giống cá lăng chấm hemibagrus guttatus lacépede 1803 bằng phương pháp sinh sản nhân tạo tại trung tâm thủy sản tuyên quang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Cá Lăng chấm (Hemibagrus guttatus. Lacépede, 1803) là loài cá bản địa quý hiếm có giá trị kinh tế cao của nƣớc ta đƣợc xếp vào hàng ngũ quý (cá Bỗng, Chiên, Lăng chấm, Rầm xanh, Anh vũ) đang có nguy cơ tuyệt chủng bậc V, cần phải bảo vệ gấp (Sách đỏ Bộ Khoa học – Công nghệ và môi trƣờng , 1992) [12]. Thịt cá thơm, ngon, đƣợc coi là một trong những loài cá ngon nhất của hệ thống sông Lô - Gâm và sông Hồng với giá bán trung bình từ 500. Trƣớc đây cá Lăng chấm có ở hầu hết các sông suối thuộc trung và thƣợng lƣu hệ thống sông Lô – Gâm và sông Hồng.

Tuy nhiên điều kiện sinh thái các thủy vực này đang có nhiều biến đổi hết sức phức tạp nhƣ việc xây dựng các đập thủy điện, xây cầu, kè sông và các hoạt động khai thác khoáng sản đã làm cản trở đƣờng di cƣ và làm mất các bãi đẻ tự nhiên của cá; ngoài ra việc khai thác quá mức bằng các phƣơng tiện mang tính hủy diệt đã làm cho sản lƣợng cá Lăng chấm bị giảm sút nghiêm trọng và có nguy cơ tuyệt chủng. Nơi cƣ trú của cá bị thu hẹp do xây dựng các hồ chứa thủy điện; nhiều sông suối bị lũ lớn, điều kiện sinh thái nơi sinh sống và bãi cá đẻ bị thay đổi nên việc tái tạo quần đàn bị hạn chế. Áp lực từ việc tăng dân số đã làm cho nhu cầu tiêu dùng thịt cá Lăng chấm ngày càng tăng. Trƣớc đây sản lƣợng cá Lăng chấm hàng năm ở sông Hồng từ 26 - 30 tấn, hồ thủy điện Hoà Bình 8 - 9 tấn, sông Lô - Gâm 9 - 10 tấn, sông Thao 5 - 6 tấn, hồ thủy điện Thác Bà 4 - 5 tấn; nhƣng hiện nay sản lƣợc chỉ còn 2,2% so với những năm 1960 - 1970 (Phạm Báu và cs, 2000)[1].

c 2 Cá Lăng chấm giống ngày càng trở nên khan hiếm nên có giá rất cao, do các ngƣ dân sử dụng ngƣ cụ đánh bắt, khai thác, sử dụng lƣới có kích thƣớc mắt nhỏ bắt cỡ cá giống từ 10 – 12 cm/con để bán lại cho các hộ nuôi cá lồng, nuôi ao dẫn đến tình trạng cá giống ngoài tự nhiên hiếm, cá thƣơng phẩm không đủ cung cấp cho thị trƣờng. Trƣớc thực trạng đó, việc nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá lăng chấm trong điều kiện nuôi là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo tồn loài cá này thoát khỏi nguy cơ tuyệt chủng. Để tìm hiểu về quá trình sinh sản nhân tạo cá lăng chấm tại Trung tâm Thủy sản Tuyên Quang tôi đã tiến hành ngiên cứu đề tài: “Thục hiện quy trình sản xuất giống cá lăng chấm (Hemibagrus guttatus. Lacépede, 1803) bằng phương pháp sinh sản nhân tạo tại Trung tâm Thủy sản Tuyên Quang” 1.

Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1.1 Mục đích nghiên cứu - Nắm đƣợc quy trình sản xuất nhân tạo giống cá lăng chấm, gắn kết đƣợc lý thuyết đã học với thực tiễn sản xuất. - Đánh giá tốc độ sinh trƣởng và tỷ lệ sống của cá lăng chấm trong điều kiện sinh sản nhân tạo.2 Mục tiêu nghiên cứu - Làm quen với phƣơng pháp nghiên cứu khoa học. - Rèn luyện tay nghề nâng cao kinh nghiệm thực tiễn. - sinh sản nhân tạo cá Lăng chấm tại trung tâm Thủy sản Tuyên Quang.

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở đánh giá quy trình sản xuất giống cá Lăng chấm bằng phƣơng pháp sinh sản nhân tạo. c 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở thực tập.1 Vị trí địa lý tỉnh Tuyên Quang. Tuyên Quang nằm trong toạ độ địa lý từ 21030’ đến 22040’ Bắc và 104053’ đến 105040’ Đông.

Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc. Phía Đông giáp các tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng và Thái Nguyên; phía Tây giáp tỉnh Yên Bái; phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc; phía Bắc giáp tỉnh Hà Giang. Là tỉnh nằm sâu trong nội địa, cách xa các trung tâm kinh tế - thƣơng mại lớn của cả nƣớc, Tuyên Quang chƣa có đƣờng sắt và đƣờng hàng không, vì vậy việc thông thƣơng sang các tỉnh khác và ra nƣớc ngoài nhờ vào hệ thống đƣờng bộ quốc lộ 2 và quốc lộ 37. Tuyên Quang nằm xa khu trung tâm, giao thông không thuận lợi, kinh tế nhìn chung phát triển chậm, kết cấu hạ tầng cơ sở còn thấp kém nên gặp nhiều khó khăn.

* Khí hậu thủy văn. Tuyên Quang mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt: mùa đông lạnh – khô hanh; mùa hè nóng ẩm mƣa nhiều. Đặc điểm khí hậu này thích ứng cho sự sinh trƣởng, phát triển của các loại cây trồng nhiệt đới. Nhiệt độ trung bình trong năm từ 22 – 24°C, lƣợng mƣa trung bình từ 1.800 mm; độ ẩm trung bình là 85%.

Nhìn chung, tỉnh có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa tạo ra những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, nhất là đối với nông nghiệp. Với mùa đông lạnh, đây là vùng có khả năng sản xuất đƣợc cả các sản phẩm nông nghiệp của cận nhiệt đới và ôn đới. Tuy nhiên, các tai biến thiên nhiên nhƣ c 4 sƣơng muối, mƣa đá, lốc bão. đã có ảnh hƣởng nhiều đến đời sống và sản xuất của nhân dân trong tỉnh, đặc biệt là đối với nông, lâm nghiệp.

Khí hậu của Tuyên Quang có thể chia làm hai tiểu vùng : - Tiểu vùng phía Bắc gồm huyện Na Hang và phần Bắc của các huyện Hàm Yên, Chiêm Hoá. Đặc trƣng của tiểu vùng này là có mùa đông tƣơng đối dài (khoảng 5 -6 tháng), thƣờng xuất hiện sƣơng muối vào mùa đông và gió, lốc xoáy vào mùa hạ. - Tiểu vùng phía Nam bao gồm phần còn lại của tỉnh với một số đặc trƣng nhƣ mùa đông ngắn (khoảng 4 tháng, lƣợng mƣa tƣơng triển về đầu trang đối cao, trên 1800mm, các tháng đầu mùa hạ thƣờng xuất hiện dông và mƣa đá. * Về giao thông.

Trong những năm gần đây, ngành giao thông vận tải của tỉnh đã đƣợc chú trọng phát triển. Các loại hình giao thông vận tải ở Tuyên Quang chủ yếu là đƣờng ô tô và một phần là đƣờng sông. Hiện nay cả tỉnh có khoảng 340,6 km đƣờng quốc lộ; 392,6km đƣờng tỉnh; 579,8 đƣờng huyện; 141,71 km đƣờng đô thị; kết cấu mặt đƣờng bao gồm các loại đƣờng cấp phối, đƣờng nhựa và bê tông. Tuyên Quang có các đƣờng giao thông quan trọng nhƣ Quốc lộ 2 đi qua địa bàn tỉnh 90 km nối liền Thủ đô Hà Nội, Phú Thọ với Tuyên Quang và Hà Giang, Quốc lộ 37 từ Thái Nguyên đi qua huyện Sơn Dƣơng, Yên Sơn đi Yên Bái, Quốc lộ 2C từ thị xã Vĩnh Yên lên Sơn Dƣơng và thành phố Tuyên Quang.

Trong đó có những tuyến giao thông huyết mạch, chiến lƣợc của cả nƣớc đi qua địa phận tỉnh nhƣ đƣờng Hồ Chí Minh. Tuyến đƣờng sông Việt Trì - Tuyên Quang - Hạ lƣu thuỷ điện Tuyên Quang. Hệ thống giao thông này sẽ làm thay đổi một cách căn bản kinh tế của tỉnh, tạo điều kiện thu hút đầu tƣ và mở rộng giao thƣơng để phát triển. c 5 * Thuỷ văn a) Mạng lƣới sông ngòi.

Mạng lƣới sông ngòi ở Tuyên Quang tƣơng đối dày với mật độ 0.9km/km2 và phân bố tƣơng đối đồng đều. Các dòng sông lớn chảy trên địa bàn của tỉnh có một số phụ lƣu. Do chảy trên địa hình đồi núi nên lòng sông dốc, nƣớc chảy xiết và có khả năng tập trung nƣớc nhanh vào mùa lũ. Cũng chịu ảnh hƣởng của địa hình mà dòng chảy có hƣớng Bắc Nam (sông Gâm) hoặc Tây Bắc - Đông Nam (sông Lô).

Thuỷ chế chia làm hai mùa rõ rệt, phù hợp với hai mùa của khí hâu. Mùa lũ tập trung tới 80% tổng lƣợng nƣớc trong năm và thƣờng gây ra ngập lụt ở một số vùng. Ba sông lớn chảy qua Tuyên Quang là sông Lô, sông Gâm và sông Phó Đáy. - Sông Lô bắt nguồn từ Vân Nam - Trung Quốc (dài 457 km), chảy theo hƣớng Tây bắc - Đông nam vào nƣớc ta (227 km), qua Hà Giang xuống Tuyên Quang và hợp lƣu với sông Hồng tại Việt Trì.

Đoạn chảy qua Tuyên Quang dài 145 km. Đây là đƣờng thuỷ duy nhất nối Tuyên Quang với Hà Giang ở phía Bắc và với Hà Nội cũng nhƣ một số tỉnh ở trung du và đồng bằng bắc bộ ở phía Nam. Nhìn chung, thuỷ chế ít điều hoà và có sự chênh lệch lớn giữa các mùa trong năm, giữa năm này với năm khác (lƣu lƣợng lớn nhất 11.700 m3/s; nhỏ nhất 128 m3/s) Sông Lô có khả năng vận tải lớn trên đoạn từ thành phố Tuyên Quang về xuôi. Các phƣơng tiện vận tải có thể đi lại dễ dàng vào mùa mƣa (trọng tải trên 100 tấn) và cả mùa khô (trọng tải khoảng 50 tấn).

Đoạn từ thành phố trở lên, việc vận tải gặp nhiều khó khăn do lòng sông dốc, có nhiều thác ghềnh. - Sông Gâm cũng bắt nguồn từ Vân Nam - Trung Quốc (dài 280km), chảy vào nứơc ta (217 km) qua Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang gần nhƣ c 6 theo hƣớng bắc nam và đổ vào sông Lô (cách thị xã Tuyên Quang 10 km ở xã Tứ Quận huyện Yên Sơn). Đoạn chảy qua tỉnh dài khoảng 110km. Giá trị vận tải của sông Gâm tƣơng đối hạn chế.

Đây là tuyến đƣờng thuỷ nối các huyện Na Hang, Chiêm Hoá với thành phố Tuyên Quang. Các phƣơng tiện vận tải vào mùa khô dƣói 10 tấn và dƣới 50 tấn vào mùa mƣa mới đi lại đƣợc trên đoạn từ Chiêm Hoá trở xuống. - Sông Phó Đáy bắt nguồn từ núi Tam Tạo thuộc huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn) chảy qua các huyện Yên Sơn, Sơn Dƣơng theo hƣớng Bắc - Nam rồi chảy vào sông Lô trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Chiều dài của sông là 170 km, đoạn chảy qua tỉnh Tuyên Quang dài 81 km.

Lƣu lƣợng dòng chảy không lớn, sông hẹp, nông, ít có khả năng vận tải đƣờng thuỷ. Ngoài 3 sông chính, ở Tuyên Quang còn có các sông nhỏ (sông Năng ở Na Hang) và hàng trăm ngòi lạch (ngòi Bắc Nhụng, ngòi Cổ Linh, ngòi Chinh, ngòi Là, ngòi Quảng…) cùng nhiều suối nhỏ len lách giữa vùng đồi vúi trùng điệp đã bồi đắp nên những soi bẫi, cánh đồng giữa núi, thuận tiện cho việc gieo trồng. Mạng lƣới sông ngòi của Tuyên Quang có vai trò quan trọng đối với sản xuất và đời sống; vừa là đƣờng giao thông thuỷ, vừa là nguồn cung cấp nƣớc cho nông nghiệp, cho nuôi trồng và đánh bắt thủy sản phục vụ đời sống của nhân dân. Ngoài ra sông Lô và sông Gâm có tiềm năng về thuỷ điện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tóm tắt tài liệu "Quy Trình Sản Xuất Giống Cá Lăng Chấm Bằng Phương Pháp Sinh Sản Nhân Tạo Tại Tuyên Quang" trình bày chi tiết quy trình sinh sản nhân tạo cá lăng chấm, một loài cá có giá trị kinh tế cao. Tài liệu này cung cấp hướng dẫn từng bước, từ chọn lọc cá bố mẹ, kích thích sinh sản, thụ tinh nhân tạo, ấp trứng, đến ương nuôi cá bột thành cá giống. Điểm nổi bật là các kỹ thuật được mô tả cụ thể, dễ áp dụng, giúp người đọc nắm vững quy trình và nâng cao hiệu quả sản xuất giống cá lăng chấm, góp phần phát triển nghề nuôi trồng thủy sản tại Tuyên Quang.

Nếu bạn quan tâm đến các kỹ thuật sinh sản nhân tạo các loài cá khác, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ nghiên cứu sinh sản nhân tạo và ương nuôi giống cá trê đồng clarias fuscus lacepède 1803 trên địa bàn tỉnh phú thọ tại đây để mở rộng kiến thức về sinh sản nhân tạo trong nuôi trồng thủy sản.