Đặt vấn đề Cá Lăng chấm (Hemibagrus guttatus. Lacépede, 1803) là loài cá bản địa quý hiếm có giá trị kinh tế cao của nƣớc ta đƣợc xếp vào hàng ngũ quý (cá Bỗng, Chiên, Lăng chấm, Rầm xanh, Anh vũ) đang có nguy cơ tuyệt chủng bậc V, cần phải bảo vệ gấp (Sách đỏ Bộ Khoa học – Công nghệ và môi trƣờng , 1992) [12]. Thịt cá thơm, ngon, đƣợc coi là một trong những loài cá ngon nhất của hệ thống sông Lô - Gâm và sông Hồng với giá bán trung bình từ 500. Trƣớc đây cá Lăng chấm có ở hầu hết các sông suối thuộc trung và thƣợng lƣu hệ thống sông Lô – Gâm và sông Hồng.
Tuy nhiên điều kiện sinh thái các thủy vực này đang có nhiều biến đổi hết sức phức tạp nhƣ việc xây dựng các đập thủy điện, xây cầu, kè sông và các hoạt động khai thác khoáng sản đã làm cản trở đƣờng di cƣ và làm mất các bãi đẻ tự nhiên của cá; ngoài ra việc khai thác quá mức bằng các phƣơng tiện mang tính hủy diệt đã làm cho sản lƣợng cá Lăng chấm bị giảm sút nghiêm trọng và có nguy cơ tuyệt chủng. Nơi cƣ trú của cá bị thu hẹp do xây dựng các hồ chứa thủy điện; nhiều sông suối bị lũ lớn, điều kiện sinh thái nơi sinh sống và bãi cá đẻ bị thay đổi nên việc tái tạo quần đàn bị hạn chế. Áp lực từ việc tăng dân số đã làm cho nhu cầu tiêu dùng thịt cá Lăng chấm ngày càng tăng. Trƣớc đây sản lƣợng cá Lăng chấm hàng năm ở sông Hồng từ 26 - 30 tấn, hồ thủy điện Hoà Bình 8 - 9 tấn, sông Lô - Gâm 9 - 10 tấn, sông Thao 5 - 6 tấn, hồ thủy điện Thác Bà 4 - 5 tấn; nhƣng hiện nay sản lƣợc chỉ còn 2,2% so với những năm 1960 - 1970 (Phạm Báu và cs, 2000)[1].
c 2 Cá Lăng chấm giống ngày càng trở nên khan hiếm nên có giá rất cao, do các ngƣ dân sử dụng ngƣ cụ đánh bắt, khai thác, sử dụng lƣới có kích thƣớc mắt nhỏ bắt cỡ cá giống từ 10 – 12 cm/con để bán lại cho các hộ nuôi cá lồng, nuôi ao dẫn đến tình trạng cá giống ngoài tự nhiên hiếm, cá thƣơng phẩm không đủ cung cấp cho thị trƣờng. Trƣớc thực trạng đó, việc nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá lăng chấm trong điều kiện nuôi là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo tồn loài cá này thoát khỏi nguy cơ tuyệt chủng. Để tìm hiểu về quá trình sinh sản nhân tạo cá lăng chấm tại Trung tâm Thủy sản Tuyên Quang tôi đã tiến hành ngiên cứu đề tài: “Thục hiện quy trình sản xuất giống cá lăng chấm (Hemibagrus guttatus. Lacépede, 1803) bằng phương pháp sinh sản nhân tạo tại Trung tâm Thủy sản Tuyên Quang” 1.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1.1 Mục đích nghiên cứu - Nắm đƣợc quy trình sản xuất nhân tạo giống cá lăng chấm, gắn kết đƣợc lý thuyết đã học với thực tiễn sản xuất. - Đánh giá tốc độ sinh trƣởng và tỷ lệ sống của cá lăng chấm trong điều kiện sinh sản nhân tạo.2 Mục tiêu nghiên cứu - Làm quen với phƣơng pháp nghiên cứu khoa học. - Rèn luyện tay nghề nâng cao kinh nghiệm thực tiễn. - sinh sản nhân tạo cá Lăng chấm tại trung tâm Thủy sản Tuyên Quang.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở đánh giá quy trình sản xuất giống cá Lăng chấm bằng phƣơng pháp sinh sản nhân tạo. c 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở thực tập.1 Vị trí địa lý tỉnh Tuyên Quang. Tuyên Quang nằm trong toạ độ địa lý từ 21030’ đến 22040’ Bắc và 104053’ đến 105040’ Đông.
Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc. Phía Đông giáp các tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng và Thái Nguyên; phía Tây giáp tỉnh Yên Bái; phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc; phía Bắc giáp tỉnh Hà Giang. Là tỉnh nằm sâu trong nội địa, cách xa các trung tâm kinh tế - thƣơng mại lớn của cả nƣớc, Tuyên Quang chƣa có đƣờng sắt và đƣờng hàng không, vì vậy việc thông thƣơng sang các tỉnh khác và ra nƣớc ngoài nhờ vào hệ thống đƣờng bộ quốc lộ 2 và quốc lộ 37. Tuyên Quang nằm xa khu trung tâm, giao thông không thuận lợi, kinh tế nhìn chung phát triển chậm, kết cấu hạ tầng cơ sở còn thấp kém nên gặp nhiều khó khăn.
* Khí hậu thủy văn. Tuyên Quang mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt: mùa đông lạnh – khô hanh; mùa hè nóng ẩm mƣa nhiều. Đặc điểm khí hậu này thích ứng cho sự sinh trƣởng, phát triển của các loại cây trồng nhiệt đới. Nhiệt độ trung bình trong năm từ 22 – 24°C, lƣợng mƣa trung bình từ 1.800 mm; độ ẩm trung bình là 85%.
Nhìn chung, tỉnh có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa tạo ra những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, nhất là đối với nông nghiệp. Với mùa đông lạnh, đây là vùng có khả năng sản xuất đƣợc cả các sản phẩm nông nghiệp của cận nhiệt đới và ôn đới. Tuy nhiên, các tai biến thiên nhiên nhƣ c 4 sƣơng muối, mƣa đá, lốc bão. đã có ảnh hƣởng nhiều đến đời sống và sản xuất của nhân dân trong tỉnh, đặc biệt là đối với nông, lâm nghiệp.
Khí hậu của Tuyên Quang có thể chia làm hai tiểu vùng : - Tiểu vùng phía Bắc gồm huyện Na Hang và phần Bắc của các huyện Hàm Yên, Chiêm Hoá. Đặc trƣng của tiểu vùng này là có mùa đông tƣơng đối dài (khoảng 5 -6 tháng), thƣờng xuất hiện sƣơng muối vào mùa đông và gió, lốc xoáy vào mùa hạ. - Tiểu vùng phía Nam bao gồm phần còn lại của tỉnh với một số đặc trƣng nhƣ mùa đông ngắn (khoảng 4 tháng, lƣợng mƣa tƣơng triển về đầu trang đối cao, trên 1800mm, các tháng đầu mùa hạ thƣờng xuất hiện dông và mƣa đá. * Về giao thông.
Trong những năm gần đây, ngành giao thông vận tải của tỉnh đã đƣợc chú trọng phát triển. Các loại hình giao thông vận tải ở Tuyên Quang chủ yếu là đƣờng ô tô và một phần là đƣờng sông. Hiện nay cả tỉnh có khoảng 340,6 km đƣờng quốc lộ; 392,6km đƣờng tỉnh; 579,8 đƣờng huyện; 141,71 km đƣờng đô thị; kết cấu mặt đƣờng bao gồm các loại đƣờng cấp phối, đƣờng nhựa và bê tông. Tuyên Quang có các đƣờng giao thông quan trọng nhƣ Quốc lộ 2 đi qua địa bàn tỉnh 90 km nối liền Thủ đô Hà Nội, Phú Thọ với Tuyên Quang và Hà Giang, Quốc lộ 37 từ Thái Nguyên đi qua huyện Sơn Dƣơng, Yên Sơn đi Yên Bái, Quốc lộ 2C từ thị xã Vĩnh Yên lên Sơn Dƣơng và thành phố Tuyên Quang.
Trong đó có những tuyến giao thông huyết mạch, chiến lƣợc của cả nƣớc đi qua địa phận tỉnh nhƣ đƣờng Hồ Chí Minh. Tuyến đƣờng sông Việt Trì - Tuyên Quang - Hạ lƣu thuỷ điện Tuyên Quang. Hệ thống giao thông này sẽ làm thay đổi một cách căn bản kinh tế của tỉnh, tạo điều kiện thu hút đầu tƣ và mở rộng giao thƣơng để phát triển. c 5 * Thuỷ văn a) Mạng lƣới sông ngòi.
Mạng lƣới sông ngòi ở Tuyên Quang tƣơng đối dày với mật độ 0.9km/km2 và phân bố tƣơng đối đồng đều. Các dòng sông lớn chảy trên địa bàn của tỉnh có một số phụ lƣu. Do chảy trên địa hình đồi núi nên lòng sông dốc, nƣớc chảy xiết và có khả năng tập trung nƣớc nhanh vào mùa lũ. Cũng chịu ảnh hƣởng của địa hình mà dòng chảy có hƣớng Bắc Nam (sông Gâm) hoặc Tây Bắc - Đông Nam (sông Lô).
Thuỷ chế chia làm hai mùa rõ rệt, phù hợp với hai mùa của khí hâu. Mùa lũ tập trung tới 80% tổng lƣợng nƣớc trong năm và thƣờng gây ra ngập lụt ở một số vùng. Ba sông lớn chảy qua Tuyên Quang là sông Lô, sông Gâm và sông Phó Đáy. - Sông Lô bắt nguồn từ Vân Nam - Trung Quốc (dài 457 km), chảy theo hƣớng Tây bắc - Đông nam vào nƣớc ta (227 km), qua Hà Giang xuống Tuyên Quang và hợp lƣu với sông Hồng tại Việt Trì.
Đoạn chảy qua Tuyên Quang dài 145 km. Đây là đƣờng thuỷ duy nhất nối Tuyên Quang với Hà Giang ở phía Bắc và với Hà Nội cũng nhƣ một số tỉnh ở trung du và đồng bằng bắc bộ ở phía Nam. Nhìn chung, thuỷ chế ít điều hoà và có sự chênh lệch lớn giữa các mùa trong năm, giữa năm này với năm khác (lƣu lƣợng lớn nhất 11.700 m3/s; nhỏ nhất 128 m3/s) Sông Lô có khả năng vận tải lớn trên đoạn từ thành phố Tuyên Quang về xuôi. Các phƣơng tiện vận tải có thể đi lại dễ dàng vào mùa mƣa (trọng tải trên 100 tấn) và cả mùa khô (trọng tải khoảng 50 tấn).
Đoạn từ thành phố trở lên, việc vận tải gặp nhiều khó khăn do lòng sông dốc, có nhiều thác ghềnh. - Sông Gâm cũng bắt nguồn từ Vân Nam - Trung Quốc (dài 280km), chảy vào nứơc ta (217 km) qua Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang gần nhƣ c 6 theo hƣớng bắc nam và đổ vào sông Lô (cách thị xã Tuyên Quang 10 km ở xã Tứ Quận huyện Yên Sơn). Đoạn chảy qua tỉnh dài khoảng 110km. Giá trị vận tải của sông Gâm tƣơng đối hạn chế.
Đây là tuyến đƣờng thuỷ nối các huyện Na Hang, Chiêm Hoá với thành phố Tuyên Quang. Các phƣơng tiện vận tải vào mùa khô dƣói 10 tấn và dƣới 50 tấn vào mùa mƣa mới đi lại đƣợc trên đoạn từ Chiêm Hoá trở xuống. - Sông Phó Đáy bắt nguồn từ núi Tam Tạo thuộc huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn) chảy qua các huyện Yên Sơn, Sơn Dƣơng theo hƣớng Bắc - Nam rồi chảy vào sông Lô trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Chiều dài của sông là 170 km, đoạn chảy qua tỉnh Tuyên Quang dài 81 km.
Lƣu lƣợng dòng chảy không lớn, sông hẹp, nông, ít có khả năng vận tải đƣờng thuỷ. Ngoài 3 sông chính, ở Tuyên Quang còn có các sông nhỏ (sông Năng ở Na Hang) và hàng trăm ngòi lạch (ngòi Bắc Nhụng, ngòi Cổ Linh, ngòi Chinh, ngòi Là, ngòi Quảng…) cùng nhiều suối nhỏ len lách giữa vùng đồi vúi trùng điệp đã bồi đắp nên những soi bẫi, cánh đồng giữa núi, thuận tiện cho việc gieo trồng. Mạng lƣới sông ngòi của Tuyên Quang có vai trò quan trọng đối với sản xuất và đời sống; vừa là đƣờng giao thông thuỷ, vừa là nguồn cung cấp nƣớc cho nông nghiệp, cho nuôi trồng và đánh bắt thủy sản phục vụ đời sống của nhân dân. Ngoài ra sông Lô và sông Gâm có tiềm năng về thuỷ điện.