MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc thực hiện đề tài Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng: rừng tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo chu chuyển ôxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước mặt và nước ngầm và làm giảm mức ô nhiễm không khí và nước. Rừng là nguồn tài nguyên có giá trị to lớn không chỉ về mặt kinh tế mà còn về xã hội, khoa học, môi trường, quốc phòng an ninh,… Thế nhưng, trong giai đoạn từ năm 2000 trở về trước tài nguyên rừng của nước ta suy giảm đáng kể cả về số lượng và chất lượng. Qua quá trình quản lý chưa bền vững, độ che phủ của rừng ở Việt Nam đã giảm sút đến mức báo động.
Chất lượng của rừng tự nhiên còn lại đã bị hạ thấp quá mức. Nguyên nhân chủ yếu do ý thức của người dân sống xung quanh vùng rừng trong đó có cháy rừng, đốt rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản, gia tăng dân số,… Dẫn đến nhiều loài cây gỗ quý hiếm, cây bản địa, cây có giá trị cao về kinh tế bị đe dọa nghiêm trọng và có nguy cơ bị tuyệt chủng. Diện tích rừng suy giảm do nạn chặt phá rừng. Vấn đề đặt ra trong giai đoạn này là phải làm sao quản lý và bảo vệ rừng từ đó phát triển theo hướng bền vững.
Theo thống kê của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn công bố qua các năm về hiện trạng tài nguyên rừng thì: Năm 2005 độ che phủ của nước ta là 37% diện tích đất có rừng là 12616699 ha trong đó rừng trồng chỉ chiếm 2333526 ha (Tổng cục Lâm Nghiệp, 2005) [20]. Năm 2008 độ che phủ của nước ta là 38,7% diện tích rừng trồng đã tăng lên 2770182 ha (Bộ NN & h 2 PTNT, 2008) [21]. Năm 2013 diện tích che phủ lên đến 41,0% trong đó diện tích rừng trồng là 556294 ha (Bộ NN & PTNT, 2013) [22]. Năm 2015 diện tích che phủ là 40,8% diện tích rừng trồng tăng lên 3886337 ha (Bộ NN & PTNT, 2015) [23].
Năm 2016 độ che phủ là 41,19% (Bộ NN & PTNT, 2016) [19]. Nhìn vào số liệu nhận thấy rằng hiện trạng rừng toàn quốc đang có những chuyển biến mới mang lại sự thay đổi cho ngành Lâm Nghiệp.Tuy diện tích rừng và độ che phủ của rừng tăng lên đáng kể nhưng chất lượng rừng vẫn còn rất thấp. Đặc biệt trong những năm vừa qua có sự tăng lên về năng suất rừng trồng nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nguyên liệu cho nhu cầu sản xuất của xã hội. Ở Việt Nam hiện nay, công tác trồng rừng đang được quan tâm và phát triển phạm vi rộng với một số loài cây mọc nhanh nhằm cung cấp gỗ xẻ công nghiệp, đóng đồ gia dụng và các ngành công nghiệp giấy, ván nhân tạo.
Để đáp ứng được nhu cầu sử dụng gỗ ngày càng tăng của xã hội, ngành Lâm Nghiệp đã đưa ra nhiều giải pháp trong đó có giải pháp lựa chọn các cây sinh trưởng nhanh để nâng cao năng suất chất lượng rừng trồng. Một trong những loài cây nguyên liệu có khả năng sinh trưởng nhanh được đề cập đến đó là cây keo lai (Acacia hybrid). Cây keo lai là một trong 48 loài cây trồng chính để trồng rừng sản xuất đã được Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận tại quyết định số 16/2005/QĐ-BNN ngày 15/03/2005 (Bộ NN & PTNT, 2005) [24]. Tuy mới được phát hiện từ những năm đầu thấp kỷ 90 nhưng diện tích trồng rừng keo lai tăng rất nhanh.
Qua tuyển chọn với hai giống cây này đã có một dòng được công nhận là giống quốc gia và nhiều dòng được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật. Đến nay keo lai đã được trồng phổ biến ở nhiều vùng trong cả nước và trở thành một trong các giống cây trồng rừng kinh tế chủ lực. Keo lai thuộc họ đậu (Leguminosae) được lai tự nhiên giữa keo tai tượng (Acacia mangium) và keo lá tràm (Acacia auriculiformis). Đây là giống h 3 có nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa bố và mẹ.
Cho đến nay, keo lai đã được khẳng định là loài cây có khả năng chịu đựng được khô hạn, thích ứng được với nhiều loại đất, sinh trưởng nhanh, cải tạo đất, cải thiện môi trường sinh thái. Gỗ keo lai được sử dụng làm ván sàn, ván dăm, trụ mỏ, và đặc biệt hơn cả là được sử dụng nhiều trong công nghiệp giấy. Keo lai có khối lượng gỗ lấy ra lớn hơn gấp 2-3 lần keo tai tượng và keo lá tràm, hàm lượng xenlulozo trong gỗ cao, lượng lignin thấp, do đó có hiệu suất bột giấy lớn, chất lượng bột giấy tốt. Nhờ đó mà keo lai đem lại hiệu quả kinh tế khá cao và nhanh cho các đối tượng trồng rừng.
Công tác trồng rừng cần có nhiều yếu tố tham gia vào như giống, thời gian, nguồn vốn, nhân lực mà nguồn giống là một yếu tố rất quan trọng. Cho nên công tác tạo giống đóng vai trò quan trọng không thể thiếu cho việc phát triển công tác rừng. Hiện nay có 2 phương pháp tạo giống phổ biến: Phương pháp nhân giống vô tính và phương pháp nhân giống hữu tính. Nhân giống bằng hom là phương thức đang được áp dụng phổ biến để nhân giống dòng vô tính.
Nhân giống bằng hom có hệ số nhân giống cao, cây giữ được những đặc tính di truyền quý từ cây mẹ. Cây đồng đều thuận lợi cho việc chăm sóc, sớm ra hoa kết quả và có thể sản xuất giống theo hướng công nghiệp. Do những ưu việt của mình mà nhân giống bằng hom đang được sử dụng hầu hết trong công tác chọn giống cây trồng. Nhằm hạn chế tình trạng phân ly của giống lai, keo lai thường được tạo cây con bằng phương pháp vô tính (giâm hom).
Chính vì vậy cho đến nay có nhiều quy trình sản xuất keo lai đã có nhưng vẫn chưa được áp dụng rộng rãi do điều kiện ngoại cảnh của từng vùng khác nhau mà năng suất, chất lượng cũng khác nhau dẫn đến cách chăm sóc khác nhau. Vì vậy cần có những quy h 4 trình cụ thể trong việc sản xuất keo lai của từng vùng cho bà con làm cơ sở vận dụng, nâng cao hiệu quả trong công tác trồng rừng. Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự đồng ý của khoa Lâm Nghiệp trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Thực hiện quy trình sản xuất cây keo lai (Acacia hybrid) bằng phương pháp giâm hom tại công ty Lâm Nghiệp - Đồng Hỷ - Thái Nguyên”. Với mong muốn hoàn thành quy trình sản xuất cây keo lai từ hom góp phần vào việc cung cấp thêm thông tin tham khảo, giúp cho người dân có thêm lựa chọn trong phương pháp nhân giống mang lại hiệu quả kinh tế, phù hợp với thực tiễn sản xuất của vùng đó.
Mục tiêu, yêu cầu thực hiện 1. Mục tiêu - Tìm hiểu và thực hiện quy trình sản xuất cây keo lai bằng phương pháp giâm hom trong điều kiện của trạm giống tại công ty Lâm Nghiệp Đồng Hỷ, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. - Góp phần hoàn thiện thêm cơ sở lý luận, thông tin về cây keo lai.Yêu cầu thực hiện - Xác định tính chất cây mẹ lấy hom, cách trồng và chăm sóc. - Xác định được vị trí lấy hom nhân giống phù hợp đảm bảo khả năng sống cao của cây giống, hệ rễ phát triển và sinh trưởng tốt.
- Xác định giá thể thích hợp cho phương pháp giâm hom trong vườn ươm. - Kỹ thuật cắt, cắm hom và chăm sóc keo hom giai đoạn vườn ươm. - Tìm hiểu các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại trong giai đoạn vườn ươm. - Đề xuất được hướng dẫn kỹ thuật nhân giống cây keo lai bằng phương pháp giâm hom.
h 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Những kết quả về lĩnh vực giâm hom ở Việt Nam và trên thế giới 2. Kết quả thực hiện trong nước Việt Nam đã và đang ứng dụng những thành tựu trong nghiên cứu tạo giống cây bằng giâm hom. Các nhà khoa học đã và đang không ngừng nỗ lực tìm tòi sáng tạo, tạo ra những quy trình phương pháp riêng cho giâm hom giống cây rừng nói chung và những cảnh quan nói riêng.
Năm 1976, lần đầu Việt Nam đã thử nghiệm nhân giống với hơn một số loài cây như bạch đàn, thông được tiến hành tại Phù Ninh tỉnh Phú Thọ. Năm 1990, Nguyễn Hoàng Nghĩa nhân giống cây sở bằng hom cành xử lý thuốc NAA ở một số công thức thích hợp cho tỷ lệ ra rễ ở hom giâm là 80% (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [11]. Lê Đình Khả và Đoàn Thị Bích giâm hom bạch đàn trắng bằng thuốc xử lý IBA nồng độ 75 ppm cho tỷ lệ ra rễ cao hơn 27,5% so với công thức đối chứng (Ngô Kim Khôi, 1998) [9]. Từ năm 1990 trở lại đây các nhà khoa học Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn và Nguyễn Hoàng Nghĩa đã tiến hành giâm hom các loài bạch đàn (1990-1991), cây sở (Lạng Sơn, 1990), keo lá tràm và keo lai (1995), bách xanh (1999), pơ mu (Lâm Đồng, 1997), thông đỏ (Ba Vì, 1995).
Cường độ ánh sáng, thời gian chiếu sáng cũng như chất lượng ánh sáng đều có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm. Thông thường trong kỹ thuật giâm hom đều sử dụng mái che 50% ánh sáng trong thời kỳ mới giâm đến khi cây ra rễ ổn định. Tuy nhiên, đối với giâm hom các loài Keo (Acacia) việc che bớt cường độ ánh sáng tỏ ra không cần thiết cho quá trình ra rễ của hom. Nhưng để giảm thiểu khả năng thiệt hại khi giâm hom ngoài trời không có mái che mưa nắng cần đặc biệt quan tâm là phải điều tiết nhịp độ tưới phun h 6 thích hợp thì sẽ hạn chế tối đa tỷ lệ cây bị chết héo (Nguyễn Văn Chiến, 2004) [2].
Năm 2011, Nguyễn Chí Trung và Tô Quốc Huy nhân giống cây keo lai và bạch đàn bằng giâm hom về xây dựng vườn giâm hom đạt hiệu quả cao. Kết quả khảo nghiệm cho thấy, vòi phun Toro (Úc) tại áp suất phun 2105 Pa có lưu lượng là 0,61 l/ph và bán kính phun là 850 mm có độ phun tơi và đồng đều đạt cao nhất. Đây là chất lượng tưới phun gần như tối ưu cho môi trường vườn giâm hom tạo giống cây Lâm Nghiệp (Nguyễn Chí Trung và Tô Quốc Huy, 2011) [13]. Giâm hom tại thời điểm tháng 3-5 cho hiệu quả cao, tháng 3 là 90,29% và tháng 5 là 91,36% (Phạm Thanh Nam, 2016) [10].