Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Minh Hiếu (năm 2018, chuyên ngành Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên) được triển khai trong bối cảnh diện tích và độ che phủ rừng tại Việt Nam có xu hướng phục hồi nhưng chất lượng rừng tự nhiên vẫn còn thấp, đồng thời nguồn nguyên liệu gỗ cho công nghiệp chế biến đang thiếu hụt nghiêm trọng. Dẫn chứng từ các số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tác giả nêu rõ diễn biến độ che phủ rừng qua các giai đoạn: năm 2005 đạt 37% (diện tích rừng trồng là 2.333.526 ha trên tổng số 12.616.699 ha đất có rừng); năm 2008 đạt 38,7% (rừng trồng đạt 2.770.182 ha); năm 2013 đạt 41,0% (rừng trồng đạt 556.294 ha); năm 2015 đạt 40,8% (rừng trồng tăng lên 3.886.337 ha) và đến năm 2016 đạt 41,19%. Dù diện tích tăng nhưng nguồn cung gỗ xẻ công nghiệp, ván nhân tạo và bột giấy vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu xã hội.

Để giải quyết bài toán nguyên liệu, cây keo lai (Acacia hybrid) – loài cây lai tự nhiên giữa keo tai tượng (Acacia mangium) và keo lá tràm (Acacia auriculiformis), thuộc họ Đậu (Leguminosae) – đã được công nhận là một trong 48 loài cây trồng rừng sản xuất chính theo Quyết định số 16/2005/QĐ-BNN ngày 15/03/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Keo lai sở hữu nhiều đặc tính vượt trội: sinh trưởng nhanh, biên độ thích ứng sinh thái rộng, chịu khô hạn, cải tạo đất, khối lượng gỗ cao gấp 2-3 lần so với loài bố mẹ, hàm lượng cellulose cao và lignin thấp, đem lại hiệu suất bột giấy lớn. Tuy nhiên, việc gieo ươm bằng hạt thường dẫn đến tình trạng phân ly tính trạng di truyền ở đời sau. Do đó, phương pháp nhân giống vô tính bằng giâm hom là giải pháp kỹ thuật tối ưu nhằm bảo tồn nguyên vẹn các đặc tính ưu việt của cây mẹ, tạo độ đồng đều cao cho cây con và rút ngắn chu kỳ thu hoạch. Mặc dù quy trình giâm hom keo lai đã được nghiên cứu ở nhiều nơi, song việc ứng dụng tại từng tiểu vùng khí hậu cụ thể vẫn gặp khó khăn do điều kiện ngoại cảnh khác biệt. Xuất phát từ thực tiễn sản xuất tại địa phương, đề tài được thực hiện nhằm hoàn thiện các thao tác kỹ thuật giâm hom phù hợp với điều kiện sinh thái vùng Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm 02 nội dung:

  1. Tìm hiểu và thực hiện quy trình sản xuất cây keo lai bằng phương pháp giâm hom trong điều kiện của trạm giống tại Công ty Lâm nghiệp Đồng Hỷ, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Góp phần hoàn thiện thêm cơ sở lý luận, thông tin về cây keo lai.

Nhiệm vụ (yêu cầu) nghiên cứu được xác định cụ thể theo 06 nội dung:

  1. Xác định tính chất cây mẹ lấy hom, cách trồng và chăm sóc.
  2. Xác định vị trí lấy hom nhân giống phù hợp đảm bảo khả năng sống cao của cây giống, hệ rễ phát triển và sinh trưởng tốt.
  3. Xác định giá thể thích hợp cho phương pháp giâm hom trong vườn ươm.
  4. Xác định kỹ thuật cắt, cắm hom và chăm sóc keo hom giai đoạn vườn ươm.
  5. Tìm hiểu các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại trong giai đoạn vườn ươm.
  6. Đề xuất hướng dẫn kỹ thuật nhân giống cây keo lai bằng phương pháp giâm hom.

Đối tượng, không gian và thời gian nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cây keo lai (Acacia hybrid), cụ thể là dòng giống quốc gia BV10.
  • Địa điểm thực hiện: Trạm giống của Công ty Lâm nghiệp Đồng Hỷ, xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (khu vực mang khí hậu nhiệt đới gió mùa miền núi phía Bắc, nhiệt độ trung bình năm 23°C, lượng mưa trung bình 1.500 - 2.500 mm/năm, độ ẩm không khí 78 - 90%).
  • Thời gian thực hiện: Từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 5 năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên các cơ sở sinh học và lâm sinh học nền tảng của phương pháp nhân giống sinh dưỡng vô tính:

  • Cơ sở tế bào học và di truyền học: Dựa trên khả năng phân bào nguyên nhiễm (nguyên phân), bộ nhiễm sắc thể của tế bào khởi đầu được sao chép và phân chia đồng đều về các tế bào con, đảm bảo cây hom mang đầy đủ và nguyên vẹn các đặc tính di truyền ưu việt từ cây mẹ đã qua khảo nghiệm chọn giống, loại trừ hiện tượng phân ly tính trạng của hạt lai.
  • Cơ sở sinh lý hình thành rễ bất định: Quá trình tái sinh rễ từ cành giâm trải qua 3 giai đoạn kế tiếp: (1) Tế bào bị thương tại vết cắt chết đi, hình thành lớp keo lấp đầy mạch gỗ để chống mất nước; (2) Các tế bào sống liền kề phân chia tạo thành khối mô mềm (mô sẹo); (3) Tế bào vùng tượng tầng, libe thứ cấp non bắt đầu phân hóa và phát triển thành rễ bất định đâm xuyên ra ngoài vỏ thân.
  • Hệ thống phân loại khả năng ra rễ: Kế thừa nghiên cứu của Nanda (1970) chia cây gỗ thành 3 nhóm theo mức độ ra rễ (cao, trung bình, khó), trong đó keo thuộc nhóm khó ra rễ tự nhiên, bắt buộc phải sử dụng chất điều hòa sinh trưởng thực vật thuộc nhóm Auxin (axit indol butylic - IBA, axit indol axetic - IAA, hoặc axit napthalen axetic - NAA) kết hợp điều tiết nhiệt độ (28 - 33°C), ẩm độ đất (70 - 80%) và độ che sáng thích hợp (30 - 60%).
  • Căn cứ pháp lý: Quyết định số 16/2005/QĐ-BNN ngày 15/03/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc công nhận giống cây trồng chính cho lâm nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa nghiên cứu tài liệu và theo dõi thực nghiệm trực tiếp tại vườn ươm:

  • Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thủy văn xã Hóa Thượng, tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty Lâm nghiệp Đồng Hỷ, cùng các quy trình kỹ thuật giâm hom keo lai đã ban hành trước đó.
  • Phương pháp theo dõi thực nghiệm: Trực tiếp thực hiện và giám sát 6 bước kỹ thuật: (1) Chăm sóc cây mẹ lấy hom; (2) Cắt và xử lý hom cành; (3) Xử lý giá thể; (4) Cắm hom; (5) Chăm sóc, điều tiết ẩm độ qua 4 giai đoạn phát triển; (6) Phân loại xuất vườn và phòng trừ bệnh hại.
  • Phương pháp bố trí mẫu và thu thập số liệu: Trên mỗi luống giâm diện tích 10 m² (rộng 1 m, dài 10 m), tác giả thiết lập 03 ô dạng bản (ODB) với diện tích 1 m²/ô để theo dõi tỷ lệ sống, tỷ lệ ra rễ và sinh trưởng. Để theo dõi động thái ra rễ theo thời gian, tác giả định kỳ nhổ ngẫu nhiên 180 hom sống tại các mốc 10, 20, 30, 40 và 50 ngày sau khi cắm (sau khi đo đếm chiều dài và số lượng rễ, hom được cắm trả lại bầu để tiếp tục sinh trưởng).
  • Công thức tính toán số liệu thống kê:
    • Tỷ lệ hom sống (%): $\frac{\text{Số hom sống}}{\text{Tổng số hom theo dõi}} \times 100$
    • Tỷ lệ hom ra rễ (%): $\frac{\text{Số hom ra rễ}}{\text{Tổng số hom kiểm tra}} \times 100$
    • Chiều dài rễ trung bình (cm): $\frac{\text{Tổng chiều dài rễ}}{\text{Tổng số rễ}}$
    • Số rễ trung bình (rễ/hom): $\frac{\text{Tổng số rễ}}{\text{Tổng số hom ra rễ}}$
    • Chỉ số ra rễ: $\text{Tỷ lệ hom ra rễ} \times \text{Tổng số rễ} \times \text{Chiều dài rễ trung bình}$

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu là dữ liệu sơ cấp được đo đếm trực tiếp tại trạm giống trong vụ xuân hè năm 2018 kết hợp số liệu khí tượng địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài dựa trên hiện trạng tài nguyên rừng Việt Nam, phân tích nhu cầu cấp thiết về nguồn gỗ nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến, và khẳng định vị thế của cây keo lai như một loài cây lâm nghiệp chủ lực. Tác giả luận giải việc áp dụng phương pháp giâm hom sinh dưỡng nhằm khắc phục nhược điểm phân ly di truyền của giống lai tự nhiên, đồng thời công bố rõ ràng 02 mục tiêu và 06 nhiệm vụ kỹ thuật cụ thể cần thực hiện tại vườn ươm Công ty Lâm nghiệp Đồng Hỷ.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết có hệ thống các công trình nghiên cứu nhân giống sinh dưỡng trong nước và quốc tế. Tác giả khái quát các mốc nghiên cứu giâm hom tại Việt Nam từ năm 1976 tại Phù Ninh (Phú Thọ) trên bạch đàn, thông; các nghiên cứu của Lê Đình Khả, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Phạm Văn Tuấn trên keo lá tràm, keo lai, bách xanh, pơ mu; công nghệ giâm hom ngoài trời của Nguyễn Văn Chiến (1998, 2004) tại Đông Nam Bộ; cùng thử nghiệm công nghệ tưới phun vòi Toro (Úc) áp suất $2 \times 10^5\text{ Pa}$ của Nguyễn Chí Trung và Tô Quốc Huy (2011). Về mặt lý thuyết, chương phân tích sâu cơ chế tế bào học (nguyên phân), sinh lý hình thành rễ bất định qua 3 giai đoạn, phân loại mức độ ra rễ của các loài cây gỗ theo Nanda (1970), và đánh giá vai trò của các yếu tố nội sinh (tuổi cây mẹ, vị trí cành, diện tích phiến lá, auxin nội sinh) cùng các yếu tố ngoại sinh (nhiệt độ nhà ươm 28 - 33°C, giá thể đất tầng B, ẩm độ 70 - 80%). Phần tổng quan cơ sở thực tập cung cấp chi tiết điều kiện tự nhiên, địa hình trung du đồi núi thấp (cao trung bình 150 m), thổ nhưỡng (70% đất đồi núi) và mạng lưới thủy văn của xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp thực hiện

Trình bày chi tiết đối tượng nghiên cứu là quy trình sản xuất keo lai giâm hom tại Trạm giống Công ty Lâm nghiệp Đồng Hỷ trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2018. Tác giả hệ thống hóa quy trình kỹ thuật gồm 6 công đoạn: chuẩn bị vườn giống cây mẹ (mật độ $0,6 \times 0,5\text{ m}$, đốn tạo chồi ở độ cao 70 cm), chuẩn bị luống giâm (rộng 1,4 m hoặc 1 m, giàn che cao 2,2 m che sáng 60%), kỹ thuật cắt cành và chế biến hom (dài 4 - 7 cm hoặc 7 - 15 cm, để 1 - 2 lá cắt bớt 2/3 diện tích phiến lá), xử lý hóa chất chống nấm Benlate-C hoặc ViBEN-C 50WP và chất kích thích ra rễ IBA (nồng độ 400 ppm), kỹ thuật cắm hom sâu 2 - 3 cm, và chế độ chăm sóc tưới nước tự động theo từng giai đoạn phát triển. Phương pháp thu thập dữ liệu thông qua hệ thống ô dạng bản 1 m² và 4 biểu mẫu điều tra thực địa được thiết lập rõ ràng cùng 5 công thức toán học xử lý số liệu.

Phần 4: Kết quả thực hiện và thảo luận

Đây là chương trọng tâm của khóa luận, mô tả chi tiết kết quả thực hiện các khâu kỹ thuật tại trạm giống và đánh giá động thái sinh trưởng của hom keo lai:

  • Kỹ thuật làm luống và đóng bầu: Mặt bằng luống được làm phẳng, kích thước rộng 1 m, dài 10 m, chứa 6.500 - 7.000 bầu/luống. Sử dụng vỏ bầu P.E kích thước đường kính 6 - 7 cm, cao 11 - 12 cm, đục 4 - 6 lỗ thoát nước gần đáy. Ruột bầu sử dụng 100% đất tầng B lấy từ đồi trồng keo, nghiền nhỏ và sàng qua lưới 0,5 - 1 cm, tuyệt đối không trộn phân NPK để tránh làm thối gốc hom. Giàn che nắng cao 2 m lợp lưới đen tán xạ 30 - 60% ánh sáng; trên từng luống dựng khung vòm sắt uốn cong cao 0,7 - 1 m bọc nilon trắng trong suốt để giữ ẩm.
  • Quản lý cây mẹ và kỹ thuật cắt hom: Cây mẹ thuộc dòng giống quốc gia BV10 trồng từ tháng 6/2017, cự ly hàng cách hàng 0,8 m, cây cách cây 0,4 m, đốn sát gốc để kích thích chồi vượt. Thu hái cành bánh tẻ dài 30 - 40 cm vào buổi sáng mát, để lại ít nhất 1 cặp lá gốc cho chu kỳ cắt sau (chu kỳ khoảng 40 ngày). Hom giâm được cắt đoạn ngọn dài 7 - 15 cm mang ít nhất 2 chồi ngủ, giữ lại 1 - 2 cặp lá và cắt bớt diện tích phiến lá (chỉ để lại 1/4 phiến lá).
  • Xử lý hóa chất khử trùng và kích thích rễ: Hom sau cắt được bó thành bó, ngâm gốc 2 - 3 cm vào dung dịch thuốc diệt nấm ViBEN-C 50WP nồng độ 200 ppm trong 15 phút, sau đó chuyển sang xô chứa dung dịch thuốc kích thích ra rễ trong 15 phút. Nền luống bầu được khử trùng trước khi cắm bằng thuốc tím $KMnO_4\text{ 0,05%}$ (tưới 6 - 8 ô roa/luống), sau 30 phút tưới tiếp ViBEN-C 50WP (pha 20 g vào 8 lít nước, tưới 6 ô roa/luống).
  • Thao tác cắm hom và chế độ chăm sóc 4 giai đoạn: Hom cắm sâu 3 - 4 cm, nghiêng nhẹ, cách nách lá trên 2 - 3 cm. Chế độ chăm sóc phân chia thành 4 giai đoạn:
    • Giai đoạn 1 (7 ngày đầu): Đậy kín vòm nilon và lưới đen; tưới phun ẩm 2 lần/ngày (sáng sớm, chiều tối), mỗi lần 20 phút.
    • Giai đoạn 2 (ngày thứ 7 - 25): Tưới 2 lần/ngày, mỗi lần 15 phút; mở hé 2 đầu vòm nilon vào buổi chiều để lưu thông không khí; định kỳ 2 - 3 ngày nhặt bỏ hom thối chết.
    • Giai đoạn 3 (ngày thứ 25 - 60): Hom đã bật rễ, tháo dỡ dần vòm nilon, giữ nguyên giàn che lưới đen; chuyển sang tưới 1 lần/ngày bằng vòi phun hạt to hơn.
    • Giai đoạn 4 (từ 60 ngày đến xuất vườn): Tưới duy trì 2 - 3 ngày/lần, dỡ bỏ hoàn toàn giàn che để luyện cây con ngoài nắng; tiến hành đảo bầu trước khi xuất vườn 20 ngày.
  • Động thái ra rễ và tỷ lệ sống: Báo cáo số liệu thực nghiệm chi tiết qua 5 mốc đo đếm trên mẫu 180 hom, chỉ ra sự biến thiên của tỷ lệ sống (đạt đỉnh 74,44% ở ngày thứ 30 rồi giảm xuống 69,26% ở ngày thứ 50) và sự tăng trưởng của tỷ lệ ra rễ (từ 24,40% lên 79,40%).
  • Sâu bệnh hại: Ghi nhận sự xuất hiện của hai loại bệnh chính là bệnh phấn trắng và bệnh gỉ sắt trong giai đoạn cây từ 30 đến 50 ngày tuổi, kết hợp thời tiết rét và ẩm độ cao làm suy giảm tỷ lệ cây sống khoảng 5%.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Khóa luận tổng kết toàn bộ các chỉ tiêu kỹ thuật đã đạt được trong quá trình thử nghiệm sản xuất dòng BV10 tại vườn ươm, khẳng định tính khả thi của quy trình giâm hom keo lai trong điều kiện địa phương, đồng thời đưa ra các đề xuất về việc tiếp tục hoàn thiện kỹ thuật phòng trừ bệnh nấm trong mùa đông xuân và chuyển giao quy trình cho các hộ trồng rừng trong vùng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã thu thập và xử lý toàn bộ số liệu thực nghiệm theo dõi trên 180 hom keo lai giống BV10 tại các mốc thời gian 10, 20, 30, 40 và 50 ngày sau khi cắm. Kết quả cụ thể được tổng hợp tại bảng số liệu sau:

Thời gian theo dõi (ngày) Tỷ lệ hom sống (%) Tỷ lệ hom ra rễ (%) Chiều dài rễ trung bình (cm) Số rễ trung bình (rễ/hom) Chỉ số ra rễ
10 ngày 58,56 24,40 0,12 1,14 3,34
20 ngày 68,89 33,89 0,27 1,82 16,65
30 ngày 74,44 55,50 0,39 2,02 43,72
40 ngày 71,85 67,20 0,79 2,65 140,68
50 ngày 69,26 79,40 1,08 4,02 344,72

Phân tích số liệu thực nghiệm phản ánh các quy luật sinh lý sinh trưởng của hom giâm:

  • Về tỷ lệ sống: Tỷ lệ sống của hom tăng đều từ 58,56% (ngày thứ 10) lên 68,89% (ngày thứ 20) và đạt giá trị cực đại 74,44% ở mốc 30 ngày. Sau đó, tỷ lệ sống có xu hướng giảm nhẹ xuống 71,85% (ngày thứ 40) và còn 69,26% (ngày thứ 50). Sự sụt giảm khoảng 5% tỷ lệ sống này được tác giả giải thích là do tác động cộng hưởng của các đợt rét lạnh bất thường kèm theo sự phát sinh của bệnh phấn trắng và bệnh gỉ sắt tại vườn ươm khiến những hom có sức đề kháng yếu bị thối rữa và chết.
  • Về tỷ lệ ra rễ và chỉ số ra rễ: Tỷ lệ hom ra rễ tăng trưởng liên tục và mạnh mẽ, từ 24,40% ở ngày thứ 10 lên 55,50% ở ngày thứ 30, và đạt 79,40% khi cây được 50 ngày tuổi. Số rễ trung bình trên mỗi hom tăng từ 1,14 rễ lên 4,02 rễ; chiều dài rễ trung bình tăng mạnh nhất từ mốc 30 ngày (0,39 cm) sang mốc 40 ngày (đạt 0,79 cm, tăng 0,40 cm) và tiếp tục đạt 1,08 cm ở mốc 50 ngày (tăng thêm 0,29 cm). Nhờ đó, chỉ số ra rễ tổng hợp tăng trưởng nhảy vọt từ 3,34 (ngày thứ 10) lên 344,72 (ngày thứ 50), chứng minh hệ rễ bất định đã hoàn thiện đầy đủ về cả số lượng nhánh và chiều dài cơ học.

Các thông số kỹ thuật chuẩn hóa được tác giả tổng hợp từ quy trình:

  1. Đất đóng bầu: Sử dụng đất tầng B sàng nhỏ qua mắt lưới 0,5 - 1 cm lấy từ đồi rừng keo; không trộn phân hóa học NPK vào ruột bầu giâm hom.
  2. Kích thước bầu và luống: Bầu P.E đục lỗ $6 - 7\text{ cm} \times 11 - 12\text{ cm}$; mật độ luống $1\text{ m} \times 10\text{ m}$ chứa 6.500 - 7.000 bầu.
  3. Quy cách hom cành: Cành bánh tẻ giữa tán cây mẹ BV10; hom dài 7 - 15 cm mang tối thiểu 2 chồi ngủ; cắt giảm phiến lá còn 1/4 diện tích.
  4. Chế độ xử lý hóa chất: Sát khuẩn luống bằng dung dịch $KMnO_4\text{ 0,05%}$ kết hợp ViBEN-C 50WP (20 g/8 lít nước); khử trùng hom bằng ViBEN-C 50WP nồng độ 200 ppm trong 15 phút; kích thích rễ bằng IBA trong 15 phút.
  5. Chế độ tưới ẩm 4 pha: Phun ẩm thường xuyên trong 7 ngày đầu (2 lần/ngày, 20 phút/lần), giảm dần tần suất ở các giai đoạn sau và luyện cây trước khi đảo bầu 20 ngày.

Đóng góp thực tiễn của khóa luận là đã kiểm chứng và cụ thể hóa quy trình công nghệ giâm hom keo lai dòng BV10 vào điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng cụ thể của huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, đưa ra các mốc thời gian sinh trưởng chính xác làm căn cứ lập lịch thời vụ sản xuất giống lâm nghiệp cho trạm giống.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận phản ánh một số giới hạn nghiên cứu xuất phát từ phạm vi thực tập và điều kiện thời gian:

  • Phạm vi đối tượng nghiên cứu: Đề tài mới chỉ thực nghiệm trên một dòng keo lai duy nhất là dòng giống quốc gia BV10, chưa tiến hành bố trí thí nghiệm so sánh đối chứng song song với các dòng keo lai triển vọng khác (như BV16, BV32, AH1, AH7...) để đánh giá tính thích ứng đa dạng của từng dòng.
  • Yếu tố chất kích thích sinh trưởng: Khóa luận áp dụng một công thức xử lý chất điều hòa sinh trưởng IBA theo hướng dẫn chung của trạm giống, chưa bố trí các lô thí nghiệm so sánh giữa các loại Auxin khác nhau (như IAA, NAA, IBA) hoặc kiểm tra các dải nồng độ xử lý khác nhau để tìm ra ngưỡng tối ưu nhất cho tỷ lệ ra rễ.
  • Giới hạn thời gian theo dõi: Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2018 (mùa xuân hè). Các chỉ tiêu sinh lý và sinh trưởng của hệ rễ mới chỉ được theo dõi trong 50 ngày đầu sau khi cắm hom tại vườn ươm, chưa có số liệu theo dõi dài hạn về tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cây con keo lai sau khi xuất vườn đem trồng thực tế ngoài hiện trường rừng sản xuất.
  • Yếu tố bệnh hại: Tỷ lệ sống bị suy giảm 5% ở giai đoạn cuối do ảnh hưởng của bệnh phấn trắng và bệnh gỉ sắt khi thời tiết thay đổi rét ẩm, cho thấy biện pháp phòng trừ bệnh nấm bằng ViBEN-C cần được nghiên cứu bổ sung thêm các phác đồ phối hợp thuốc đặc trị hiệu quả hơn.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng hoạt động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Giống cây trồng: Cung cấp tài liệu học tập cụ thể về phương pháp bố trí ô thí nghiệm dạng bản (ODB) trong vườn ươm lâm nghiệp, cách thức thiết lập công thức tính toán chỉ số ra rễ và phương pháp theo dõi động thái phát triển rễ bất định của cành giâm.
  • Kỹ thuật viên tại các trung tâm, trạm giống lâm nghiệp: Cung cấp một quy trình kỹ thuật hoàn chỉnh từ khâu chăm sóc vườn cây mẹ BV10, kỹ thuật đốn tỉa kích thích chồi ngủ, kích thước cắt hom chuẩn (7 - 15 cm, cắt lá còn 1/4), liều lượng pha chế thuốc sát trùng luống ($KMnO_4\text{ 0,05%}$, ViBEN-C 50WP), và chế độ tưới ẩm 4 giai đoạn thích ứng với vùng đồi núi thấp phía Bắc.
  • Các hộ gia đình và chủ trang trại trồng rừng sản xuất: Cung cấp hướng dẫn trực quan về việc lựa chọn đất tầng B không pha trộn NPK đóng bầu, cách thức làm giàn che nắng 2 m kết hợp vòm nilon 0,7 - 1 m, và kỹ thuật đảo bầu trước khi trồng 20 ngày nhằm nâng cao tỷ lệ sống của cây con sau khi đưa ra trồng rừng đại trà.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng dòng giống keo lai nào và tiêu chuẩn cây mẹ lấy hom tại trạm giống được quy định ra sao?
Nghiên cứu sử dụng dòng giống quốc gia BV10. Cây mẹ lấy hom được trồng từ tháng 6 năm 2017 tại trạm giống với mật độ hàng cách hàng 0,8 m, cây cách cây 0,4 m. Cây mẹ có chiều cao khoảng 1 m, được đốn sát gốc để kích thích sinh chồi vượt ở nách lá; gốc cây được vun xới, phủ cành lá rụng để giữ ẩm và định kỳ bón phân NPK cung cấp dinh dưỡng làm trẻ hóa cây mẹ trước các đợt thu cắt cành.

2. Thành phần và quy cách đóng ruột bầu giâm hom keo lai có đặc điểm gì đặc biệt?
Ruột bầu cắm hom tại trạm giống sử dụng 100% đất tầng B lấy từ đất đồi đã trồng keo trước đó, được làm sạch cỏ rác và sàng qua mắt lưới đường kính 0,5 - 1 cm. Tác giả lưu ý tuyệt đối không bón lót phân hóa học NPK vào ruột bầu cắm hom (NPK chỉ dùng cho cây cấy mô hoặc cây gieo hạt) để tránh gây xót và thối gốc cành giâm. Đất được đóng vào túi P.E có đục 4 - 6 lỗ thoát nước, nén chặt 1/3 đáy và nén lỏng 2/3 phần trên, đạt độ xốp 60 - 70%.

3. Quy trình khử trùng và xử lý chất kích thích ra rễ cho hom và luống bầu được tiến hành như thế nào?
Nền luống được xử lý trước bằng cách tưới đẫm dung dịch $KMnO_4\text{ 0,05%}$ (pha 1 - 2 thìa cà phê với 8 lít nước, tưới 6 - 8 ô roa/luống), sau 30 phút tưới tiếp thuốc trừ nấm ViBEN-C 50WP (20 g pha 8 lít nước, tưới 6 ô roa/luống). Cành hom sau khi cắt được bó thành bó, ngâm ngập gốc 2 - 3 cm trong dung dịch ViBEN-C 50WP (nồng độ 200 ppm) trong 15 phút để diệt nấm, sau đó chuyển sang ngâm trong dung dịch chất kích thích ra rễ IBA trong 15 phút rồi mới đem cắm vào bầu.

4. Diễn biến tỷ lệ sống và tỷ lệ ra rễ của hom keo lai biến động ra sao trong 50 ngày theo dõi?
Tỷ lệ hom sống đạt 58,56% ở ngày thứ 10, tăng lên 68,89% ở ngày thứ 20, đạt đỉnh 74,44% ở ngày thứ 30, sau đó giảm nhẹ xuống 71,85% ở ngày 40 và 69,26% ở ngày 50 do bệnh nấm và thời tiết rét. Trong khi đó, tỷ lệ hom ra rễ tăng đều liên tục: ngày 10 đạt 24,40%; ngày 20 đạt 33,89%; ngày 30 đạt 55,50%; ngày 40 đạt 67,20% và đến ngày 50 đạt 79,40% với chiều dài rễ trung bình đạt 1,08 cm và số rễ trung bình đạt 4,02 rễ/hom.

5. Chế độ tưới nước và chăm sóc luống giâm hom được phân kỳ như thế nào theo thời gian sinh trưởng của cây?
Chế độ tưới được chia thành 4 giai đoạn: Giai đoạn 1 (7 ngày đầu), phủ kín nilon và lưới đen, tưới 2 lần/ngày (mỗi lần 20 phút); Giai đoạn 2 (7 - 25 ngày), tưới 2 lần/ngày (mỗi lần 15 phút), mở hé 2 đầu vòm nilon buổi chiều và nhặt hom chết định kỳ 2 - 3 ngày/lần; Giai đoạn 3 (25 - 60 ngày), dỡ dần vòm nilon, tưới 1 lần/ngày bằng vòi phun hạt to; Giai đoạn 4 (từ 60 ngày đến khi xuất vườn), tưới duy trì 2 - 3 ngày/lần, dỡ bỏ hoàn toàn giàn che để luyện cây và tiến hành đảo bầu trước khi xuất vườn 20 ngày.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Minh Hiếu đã hệ thống hóa và thực hiện thành công toàn bộ các mắt xích kỹ thuật trong quy trình nhân giống vô tính cây keo lai dòng giống quốc gia BV10 bằng phương pháp giâm hom tại Công ty Lâm nghiệp Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Nghiên cứu cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ về động thái ra rễ, tỷ lệ sống, sự phát triển chiều dài rễ và diễn biến phát sinh bệnh hại trong điều kiện nhà ươm vụ xuân hè năm 2018. Kết quả đạt được xác nhận tỷ lệ ra rễ của hom keo lai đạt 79,40% sau 50 ngày, khẳng định tính đúng đắn của các giải pháp kỹ thuật về giá thể đất tầng B, kỹ thuật xử lý hóa chất bảo vệ thực vật và chế độ điều tiết ẩm độ theo 4 giai đoạn sinh trưởng. Công trình đóng vai trò là một tài liệu tham khảo kỹ thuật chi tiết, có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho công tác gieo ươm cây giống lâm nghiệp tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc.