CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ 3-4 TUỔI 1. Tổng quan nghiên cứu về quá trình hình thành Kỹ năng tự phục vụ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3-4 tuổi 1. Những nghiên cứu về kỹ năng tự phục vụ Giáo dục Kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ rối loạn phổ tự kỷ lứa tuổi mầm non nói riêng đã được các nhà tâm lý, giáo dục học đặc biệt quan tâm, nhiều công trình nổi tiểng như: Năm 1919, bác sỹ tâm thần Engen Bleuler, người Thuỵ Sỹ, đã đưa ra công trình nghiên cứu về Thuật ngữ Tự kỷ để miêu tả giai đoạn đầu của rối loạn thần kinh ở người lớn. Hiện tượng này xảy ra khi người bệnh bị cách ly với đời sống thực tại hằng ngày và nhận thức của họ không phù hợp với kinh nghiệm thông thường của họ.
Để thể hiện rõ những khái niệm về rối loạn phổ tự kỷ trong đề tài nghiên cứu của mình, tôi sẽ sử dụng các thuật ngữ được đề cập trong công trình nghiên cứu của Autism.Rubinstein năm 1915 đã nghiên cứu về tính tự lực trong mối quan hệ với nhiệm vụ đặt ra. Theo ông “ tính tự lực gắn chặt với tư duy. Vì vậy, giáo dục tính tự lực cho trẻ đòi hỏi trẻ phải biết vận dụng kiến thức, kỹ năng đã có vào tình huống mới”. Nghiên cứu của Wong và Kwan (2010) nhấn mạnh việc sử dụng kỹ thuật giáo dục hướng nghiệp để phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ, bao gồm việc tập trung vào khả năng độc lập, tự tin và quản lý thời gian.
Những nghiên cứu về quy trình hình thành kỹ năng tự phục vụ Sau hội thảo “chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNESCO tài trợ được tổ chức năm 2003 khái niệm kỹ năng sống được hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng. Từ đó, những người làm công tác giáo dục Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về kỹ năng sống và trách nhiệm phải giáo dục kỹ năng sống cho người học. 4 Hội thảo này đã giúp định hướng cho các hoạt động giáo dục và đào tạo ở Việt Nam, bao gồm cả đề tài nghiên cứu của tôi. Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh sẽ giúp họ phát triển các kỹ năng cần thiết để thành công trong cuộc sống, như kỹ năng giao tiếp, quản lý thời gian, giải quyết vấn đề, và nhiều hơn nữa.
Việc nghiên cứu các vấn đề trong hội thảo này giúp tôi có được cái nhìn tổng quan và cập nhật về các nội dung kỹ năng sống cần được giáo dục. Trong thời gian gần đây, một số tác giả của Việt Nam đã nghiên cứu về tính tự lực và Kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo hay những công trình nghiên cứu về việc giáo dục , rèn luyện các kỹ năng cho trẻ mẫu giáo như: Theo tác giả Dương Duy An (2011) trong cuốn sách "Kỹ năng sống cho trẻ" xuất bản bởi Nhà xuất bản Trẻ, việc dạy cho trẻ kỹ năng sống là một trong những việc làm vĩ đại nhất mà cha mẹ có thể làm cho con cái của mình, đồng thời cũng giúp các em chuẩn bị cho một tương lai tốt đẹp. Cuốn sách này cung cấp cho độc giả những phương pháp giáo dục kỹ năng hiệu quả thông qua các bài học từ cơ bản đến thực tiễn. Tác giả Mai Ngọc Liên đã nghiên cứu một số biện pháp giáo dục tính tự lực cho trẻ 24-36 tháng thông qua hoạt động tự phục vụ và cho rằng “ngay từ lứa tuổi còn rất nhỏ ( 2 tuổi ) cần giáo dục cho trẻ tính tự lực bằng cách động viên khuyến khích trẻ, cho trẻ luyện tập Kỹ năng tự phục vụ, sử dụng các trò chơi, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tự phục vụ bản thân và hoạt động tự phục vụ là phương tiện hữu hiệu nhất để giáo dục tính tự lực cho trẻ lứa tuổi ấu nhi”.
Vào năm 2011, Tác giả Vũ Hoàng Vân đã xây dựng cơ sở lý luận về biện pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi. Để xây dựng cơ sở khoa học cho đề tài, tác giả đã tiến hành tìm hiểu và đánh giá thực trạng giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 3 - 4 tuổi tại các trường mầm non, đồng thời đề xuất các biện pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi tại các trường mầm non ở quận Cầu Giấy - Hà Nội. Đề tài nghiên cứu của tác giả có tên là "Biện pháp giáo dục Kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi các trường mầm non quận Cầu Giấy" - Luận văn Thạc sĩ. 5 Bên cạnh các công trình nghiên cứu chuyên sâu, còn có các khóa luận nghiên cứu như: Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Oanh, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, 2013 “ giáo dục Kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 5-6 tuổi thông qua dạy học chủ đề Gia Đình”.
Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Oanh, tác giả đã áp dụng phương pháp dạy học chủ đề Gia Đình để giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. Phương pháp này có thể được áp dụng cho trẻ tự kỷ bằng cách tùy chỉnh và tăng cường những hoạt động và kỹ năng phù hợp với nhu cầu và khả năng của từng trẻ. Các Nghiên cứu trong và ngoài nước đã cung cấp cho đề tài khóa luận của tôi một cách tiếp cận khác trong việc phát triển kỹ năng tự chăm sóc và độc lập cho trẻ tự kỷ. Nó có thể đưa ra các phương pháp dạy học và hoạt động cụ thể để giúp trẻ tự kỷ phát triển các kỹ năng tự chăm sóc và độc lập cần thiết để thích nghi với cuộc sống hàng ngày.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Rối loạn phổ tự kỷ 1. Khái niệm Rối loạn phổ tự kỷ Hiện nay, tiêu chí chẩn đoán RLPTK được DSM được tiếp cận khá phổ biến trong các lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng về trẻ RLPTK, đặc biệt là tâm lí, giáo dục, xã hội. Tiêu chí chẩn đoán RLPTK theo DSM - V.
DSM - 5 chính thức phát hành vào năm 2013 với một số thay đổi trong quan điểm về Tự kỉ nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu và thực tiễn. Điểm nổi bật trong phiên bản này gồm: (1) Thay tên gọi rối loạn phát triển diện rộng (PDDs) bằng tên gọi RLPTK (ASDs); (2) Tên gọi RLPTK cũng được sử dụng chung cho tất cả các RLPTK thay vì các tên gọi với từng loại rối loạn như trong phiên bản trước; (3) Gộp nhóm khiếm khuyết về giao tiếp và tương tác xã hội làm một, theo đó sẽ có 2 nhóm tiêu chí chẩn đoán thay vì 3 như trong DSM - IV; (4) Các tiêu chí chẩn đoán cũng được các nhà chuyên môn đánh giá là hẹp hơn so với các phiên bản trước kia. 6 Tiêu chí chẩn đoán RLPTK theo DSM - V như sau: A. Khiếm khuyết trầm trọng về giao tiếp xã hội và tương tác xã hội trong nhiều hoàn cảnh, biểu hiện ở hiện tại hay đã có tiền sử: (1) Khiếm khuyết về sự trao đổi cảm xúc - xã hội; ranh giới từ cách tiếp cận xã hội không bình thường và thiếu khả năng thực hiện hội thoại thông thường do giảm sự chia sẻ, quan tâm, cảm xúc và phản ứng tới sự thiếu hụt hoàn toàn về khả năng bắt chước, tương tác xã hội.
(2) Khiếm khuyết về hành vi giao tiếp không lời được sử dụng trong tương tác xã hội; ranh giới từ sự hạn chế về khả năng phối hợp giao tiếp có lời và không lời do sự khác thường trong tương tác mắt và ngôn ngữ cơ thể, hoặc thiếu hụt trong việc hiểu và sử dụng giao tiếp không lời, tới sự thiếu hụt hoàn toàn về thể hiện nét mặt và cử chỉ. (3) Khiếm khuyết về khả năng phát triển và duy trì mối quan hệ phù hợp với mức độ phát triển, ranh giới từ khó khăn trong điều chỉnh hành vi để đáp ứng phù hợp với bối cảnh xã hội tới khó khăn trong tham gia trò chơi giả vờ và trong việc kết bạn; tới việc thể hiện thiếu quan tâm đến sự có mặt tới người khác. Sự giới hạn, rập khuôn về hành vi, sở thích và hoạt động, thể hiện tối thiểu ở hai biểu hiện, ở hiện tại hay đã có tiền sử: (1) Rập khuôn và lặp đi lặp lại lời nói, cử động hoặc hoạt động với đồ vật (Ví dụ: lặp đi lặp lại những cử động đơn giản, nhại lời, lặp đi lặp lại hành động với đồ vật hoặc cách thể hiện đặc trưng). Những dấu hiệu trên phải được biểu hiện từ khi còn nhỏ (nhưng có thể không thể hiện hoàn toàn rõ nét cho tới khi vượt quá giới hạn).
Những dấu hiệu trên phải làm suy giảm chức năng xã hội, nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực chức năng quan trọng khác. Những rối loạn trên không được giải thích bởi Khuyết tật trí tuệ hoặc trì hoãn phát triển thông thường; Khuyết tật trí tuệ và Tự kỉ thường xuất hiện cùng nhau nên thường có chẩn đoán cặp đôi Khuyết tật trí tuệ và Tự kỉ. Mặc dù hiện nay còn nhiều ý kiến chưa thống nhất về khái niệm trẻ RLPTK nhưng hầu hết các khái niệm của các nhà nghiên cứu và các nhà giáo dục học đưa ra về trẻ RLPTK đều thống nhất rằng: “Trẻ Rối loạn phổ Tự kỷ là một khuyết tật phát triển kéo dài suốt cuộc đời, làm ảnh hưởng trầm trọng tới quan hệ và giao tiếp xã hội, khả năng tưởng tượng và hành vi của trẻ. Tùy vào mức độ Tự kỷ mà ảnh hưởng của khuyết tật tới các lĩnh vực là khác nhau và có những biểu hiện khác nhau.
Phân loại mức độ rối loạn phổ tự kỷ Có ba mức độ: Tự kỷ mức độ nhẹ: Trẻ có khả năng giao tiếp khá tốt; trẻ hiểu ngôn ngữ nhưng gặp khó khăn khi diễn đạt, khởi đầu và duy trì hội thoại. Giao tiếp không lời, giao tiếp mắt nhưng không thường xuyên. Quan hệ xã hội tốt nhưng chỉ khi cần, khi được yêu cầu hoặc nhắc nhở. Trẻ biết chơi với bạn, chia sẻ tình cảm, mối quan tâm nhưng có xu hướng thích chơi một mình.
Trẻ có khó khăn khi học các kỹ năng cá nhân xã hội nhưng khi học được thì thực hiện một cách rập khuôn, cứng nhắc. Tự kỷ mức độ trung bình: Khả năng giao tiếp của trẻ rất hạn chế; trẻ chỉ biết một số từ liên quan trực tiếp đến trẻ, chỉ nói được câu từ ba đến bốn từ, không thể thực hiện hội thoại, rất ít giao tiếp bằng mắt.