Đặt vấn đề Ngành chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc ở các nước trên thế giới cũng như nước ta, vì đó là một nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, là nguồn cung cấp phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt và là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ như da, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến. Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, tổng số lợn của nước ta tính đến thời điểm 01/10/2018 là 28.948 (con) với tổng sản lượng thịt là 3.424 (tấn) chiếm 71,46% tổng sản lượng thịt các loại trong ngành chăn nuôi. Với vị trí quan trọng hàng đầu trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đang được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm và hướng đến phát triển bền vững. Bên cạnh đó là việc áp dụng phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp, quy mô chăn nuôi lớn, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng tiên tiến, chế biến thức ăn với chất lượng cao, các loại thức ăn thay thế, thức ăn bổ sung, phối hợp khẩu phần ăn có đầy đủ các chất dinh dưỡng.
Chính vì vai trò quan trọng đó, yêu cầu khoa học kỹ thuật, trình độ chuyên môn trong chăn nuôi ngày càng trở nên cấp thiết. Thực hiện phương châm ”Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã đưa các đợt thực tập tốt nghiệp tại cơ sở vào trong chương trình học. Giai đoạn thực tập tốt nghiệp tại cơ sở trước khi ra trường là rất quan trọng đối với mỗi sinh viên để củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, nâng cao tay nghề, đồng thời tạo cho mình sự tự lập, lòng yêu nghề, có phong cách làm việc đúng đắn. Qua đó, chúng tôi nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, khi ra trường trở thành một người cán bộ h 2 khoa học có chuyên môn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước.
Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành đề tài: “Thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn nái đẻ và lợn con theo mẹ tại trại Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba Trại, huyện Ba Vì, Hà Nội”. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục tiêu - Nắm được quy trình kỹ thuật trong nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn nuôi tại trại Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba Trại, huyện Ba Vì, Hà Nội. - Học được phương pháp phòng, trị bệnh cho lợn nái đẻ và lợn con theo mẹ từ cán bộ kỹ thuật trại.
- Củng cố và nâng cao tay nghề; bồi dưỡng lòng yêu nghề và có thái độ làm việc đúng đắn. Yêu cầu - Không ngại khó khăn, gian khổ, luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao. - Theo dõi tỉ mỉ, làm việc cẩn trọng, có ý thức trách nhiệm cao. - Ham học hỏi kiến thức từ cán bộ kỹ thuật, công nhân viên tại cơ sở, tích lũy kinh nghiệm cho bản thân.
- Nắm vững kiến thức đã học, áp dụng vào thực tiễn sản xuất. - Tuân thủ nội quy tại cơ sở, ý thức kỷ luật cao. h 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở thực tập 2.
Điều kiện tự nhiên Trại lợn Nguyễn Thanh Lịch thuộc thôn 6, xã Ba Trại, huyện Ba Vì, Hà Nội. Ba Trại là 1 trong 7 xã miền núi của huyện Ba Vì với diện tích khoảng 2017.4 ha, dân số toàn xã tính đến năm 2017 là 3.700 hộ gia đình với 14. Ba Trai xưa thuộc huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội. Nằm dưới chân núi Ba Vì, phía Đông giáp xã Tản Lĩnh, phía Bắc giáp xã Cẩm Lĩnh, phía Tây giáp xã Thuần Mỹ.
Xã nằm giữa hai con đường Tỉnh lộ 87 Sơn Tây – Đá Chông và đường 88 Sơn Tây Bất Bạt. Đường 87 đi qua xã từ phía Đông Nam qua các xóm Chằm Mè, Trung Sơn, tiếp giáp đường 89 tại Đá Chông. Đường 89 chạy song song với Sông Đà qua địa phận xã Thuần Mỹ. Đường 88 đi qua xã ở phía Bắc và cũng là ranh giới giữa Ba Trại và Cẩm Lĩnh.
Đặc điểm chung của Ba Trại bị chi phối bởi các yếu tố vĩ độ Bắc, cơ chế gió mùa, sự phối hợp giữa gió mùa và vĩ độ tạo nên khí hậu nhiệt đới ẩm với mùa đông lạnh và khô. Nhiệt độ bình quân năm trong khu vực là 23,4 0C. Nhìn chung địa hình của xã phần lớn là đồi gò, độ cao các quả đồi chênh nhau từ 5 đến 20 mét, độ dốc không lớn. Diện tích ruộng có 730 mẫu bắc bộ phần lớn là ruộng chằm, diện tích còn lại là đất đồi.
Cơ cấu tổ chức của trang trại Cơ cấu tổ chức: gồm 3 nhóm + Nhóm quản lý: 01 chủ trại, 01 quản lý trại. + Nhóm cán bộ kỹ thuật: 02 kỹ sư. + Nhóm nhân viên: 02 tổ trưởng, 06 công nhân, 01 đầu bếp, 10 sinh viên thực tập. Cơ sở vật chất của trang trại Trang trại chăn nuôi Nguyễn Thanh Lịch nằm trên địa bàn xã Ba Trại, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
Trại có diện tích đất là 2 ha, được xây dựng cách xa với đường lớn, xa trường học và nơi ít dân cư sinh sống, bao quanh trại chủ yếu là đồi cây và cách xa trại là cánh đồng lúa. Trại nằm trên địa hình khá cao ráo dễ thoát nước vào mùa mưa nhiều. Xung quanh các chuồng nuôi được trồng cây tạo bóng râm mát cho mùa hè. Được thành lập và đi vào sản xuất từ năm 2010 với số vốn đầu tư lên tới 18 tỷ đồng, trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản cho công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam (chi nhánh của Tập đoàn CP Thái Lan) cung cấp giống lợn con của nái Landrace – Yorkshire với đực Pietrain – Duroc.
Trại gồm 4 khu chính: khu nhà ăn, ở cho công nhân, khu nhà để cám và kho thuốc, khu để dụng cụ chăn nuôi và khu chăn nuôi. Khu chăn nuôi gồm 3 chuồng đẻ, 1 khu chuồng bầu, 1 chuồng đực và 3 chuồng cách ly. Quy mô trại tính đến tháng 5 năm 2018 có 1086 lợn nái, 222 lợn nái hậu bị, 21 lợn đực khai thác. Lợn sau khi sinh 18 đến 21 ngày thì được cai sữa.
Mỗi năm trang trại cho xuất ra thị trường khoảng 25. Khu chuồng bầu là nơi chăm sóc nuôi dưỡng những lợn nái đang mang thai; khu chuồng đẻ là nơi chăm sóc lợn sắp đẻ từ chuồng bầu chuyển lên, là nơi mà lợn nái thực hiện quá trình đẻ; khu còn lại là khu vực chuồng dành cho lợn hậu bị mới nhập về và lợn nái loại thải. Khu chuồng bầu gồm 7 dãy dành cho lợn nái mang thai và là chuồng có diện tích lớn nhất, cách sắp xếp lợn trong chuồng đối với những lợn nái mang thai ở các giai đoạn khác nhau được xếp vào những dãy khác nhau, lợn đực phục vụ việc lấy tinh phối giống được xếp ở dãy trong cùng gần khu vực lấy tinh, lợn nái cai sữa về được đưa về nơi chờ phối trong chuồng lợn nái có chửa nhằm thuận tiện cho việc kiểm tra và lên giống. Một dãy trong cùng của chuồng bầu là khu kiểm tra lợn động dục, khu phối, khu lấy tinh, cạnh khu lấy h 5 tinh có phòng nhỏ để kiểm tra tinh được gọi là phòng tinh.
Phòng tinh được trang bị khá đầy đủ: kính hiển vi, tủ lạnh, nồi hấp dụng cụ, máy ép túi tinh, nhiệt kế,… Chuồng được xây dựng đạt tiêu chuẩn của một chuồng kín với kết cấu tất cả sàn chuồng đều được làm bằng bê tông, sàn cao hơn hẳn nền chuồng giúp công việc vệ sinh, khử trùng được thuận tiện. Đầu chuồng bầu có hệ thống giàn mát, cuối chuồng có hệ thống quạt thông gió với 8 quạt hoạt động nhằm tạo sự thông thoáng cho chuồng, ngoài ra bên trong chuồng cṇ được trang bị đầy đủ hệ thống vòi nước tự động, máng ăn cho từng ô lợn nái nhằm đảm bảo việc chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái mang thai đạt hiệu quả nhất. Khu chuồng đẻ gồm 3 chuồng gần kề nhau được sắp xếp thành chuồng đẻ 1, chuồng đẻ 2, chuồng đẻ 3. Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió.
Mỗi chuồng đẻ gồm 2 ngăn, mỗi ngăn gồm 2 dãy và có một công nhân phụ trách. Trong chuồng đẻ sàn chuồng lợn mẹ làm bằng bê tông còn sàn chuồng dành cho lợn con làm bằng nhựa cứng. Mỗi một ô chuồng đẻ đều có vòi nước tự động dành cho lợn mẹ và dành cho lợn con. Phần chuồng cho lợn con khá rộng rãi, một góc để lồng úm, lồng úm được làm bằng khung sắt và đan bao tải cám đã được ngâm sát trùng.
Mỗi lồng úm được trang bị một bóng đèn sưởi ấm, trong mỗi ô chuồng để một máng ăn nhỏ cho lợn con tập ăn. Mỗi chuồng cũng có hệ thống giàn mát và 6 quạt thông gió và nhiệt kế đo nhiệt độ chuồng. Tại khu chuồng đẻ mỗi lần xuất lợn con và đuổi lợn mẹ về khu vực chờ phối thì chuồng được cọ rửa và phun vôi để trống chuồng 1 tuần trước khi đuổi lợn bầu sắp đẻ lên. Khu chuồng cách ly là khu chuồng nuôi lợn hậu bị mới nhập về để thay thế đàn và lợn nái loại thải.
Vị trí chuồng nằm gần chuồng bầu thuận tiện cho việc di chuyển lợn lên chuồng bầu khi đã đủ điều kiện phối giống. Khu chuồng cách ly được xây dựng với bên trong là các ô nuôi lợn tập trung gồm 6 ô lớn được trang bị khá đầy đủ với hệ thống nước uống và máng ăn tự động bên trong các ô, khu bên trên đầu chuồng là hệ thống giàn mát và khu cuối chuồng có 4 quạt thông gió nhằm tạo sự thông thoáng cho chuồng nuôi. h 6 Mỗi chuồng đều được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày, cuối chuồng mỗi ô đều có hệ thống thoát phân và nước thải. Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ:Tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho xuống chuồng, xe trở phân, xe trở lợn con, xe trở tấm đan, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực trong và ngoài chuồng nuôi.