Đặt vấn đề Cấu trúc ngành chăn nuôi Việt Nam đang thay đổi nhanh từ các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ sử dụng giống, thức ăn địa phương và tiêu thụ sản phẩm tại hệ thống chợ truyền thống, chuyển sang mô hình chăn nuôi công nghiệp khép kín quy mô lớn, liên kết hợp đồng với doanh nghiệp cung cấp đầu vào và bao tiêu sản phẩm tại các hệ thống siêu thị và phân phối. Quá trình chuyển đổi cấu trúc ngành chăn nuôi đáp ứng nhu cầu thị trường về đảm bảo nguồn cung ổn định, kiểm soát dịch bệnh, chất lượng và vệ sinh môi trường. Tuy nhiên Việt Nam ngày càng phụ thuộc hơn vào thị trường nước ngoài, nhập khẩu giống, nhập khẩu thức ăn, nhập khẩu thuốc thú ý ngày càng tăng, và chịu sự canh tranh ngày càng gay gắt của sản phẩm thịt nhập khẩu. Hộ chăn nuôi quy mô nhỏ chịu nhiều rủi ro và thiệt hại từ dịch bệnh hơn so với các hộ chăn nuôi quy mô lớn.
Và khi nói đên năng suất và sự hiệu quả trong chăn nuôi khi so sánh với những nước đã phát triển như Mỹ thì năng suất lao động bằng 1/20 người Mỹ. Ngành chăn nuôi nước ta đang có năng suất lao động quá thấp. Một trang trại lợn sinh sản quy mô 1.000 nái ở Mỹ chỉ có 1 lao động còn ở Việt Nam là 15 - 20 người. Hiểu được tầm quan trọng của sự chuyên nghiệp và công nghệ trong chăn nuôi của nước ta vẫn còn quá thấp, em đã tiến hành thực hiện đề tài “Thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ tại trang trại Griess Family – Hoa Kỳ ” 1.
Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích - Tìm hiểu quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ. c 2 - Những bệnh thường gặp trong quá trình chăn nuôi lợn nái và lợn con theo mẹ. Yêu cầu - Hiểu biết về lợn nái trước, trong và sau khi sinh sản (đặc điểm, tập tính sinh hoạt, điều kiện chăm sóc).
- Hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến lợn nái như: nhiệt độ, chế độ dinh dưỡng, vệ sinh. - Hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến lợn con sau khi sinh và quá trình nuôi dưỡng đến khi xuất chuồng. - Theo dõi sát sao, nghiêm túc, trung thực và chính xác. c 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Điều kiện nơi thực tập 2. Giới thiệu về trang trại Kỹ nghệ thịt bò và thịt lợn tại Nebraska là một ngành kinh doanh đầy năng động, đồng thời cũng là một ngành công nghiệp riêng biệt lớn nhất tại tiểu bang này. Các trại chăn nuôi và trồng trọt cung cấp thức ăn hàng ngày cho hơn 2 triệu gia súc và 1.9 triệu bò và bê cái lai giống mỗi năm. Nguồn nước phong phú cùng với nguồn cung cấp thức ăn và thóc lúa giàu có đã giúp cho ngành công nghiệp chăn nuôi được mở rộng như hiện nay.
Sự nổi bật của Nebraska về kỹ nghệ gia súc trên toàn quốc là nhờ vào nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có của tiểu bang cùng với những nỗ lực lớn để thích nghi của các nhà sản xuất và chăn nuôi cho ăn gia súc. Các nhà chăn nuôi cho ăn gia súc tại Nebraska chịu trách nhiệm về các yêu cầu của các khách hàng lớn cũng như của các nhà tiêu dùng trong và ngoài nước. Trong đó Griess Family Farm thuộc một trong những trang trại thuộc tiểu bang. Trang trại là một công ty gia đình với trên 40 năm kinh nghiệm sản xuất lợn sinh sản.
Hiện tại trang trại đang có trên 7000 lợn sinh sản. Lợn của trang trại được nuôi dưỡng bằng chế độ ăn chay tự nhiên và không bao giờ dùng kháng sinh hoặc chất kích thích tăng trưởng nhân tạo. Lợn của trang trại trưởng thành và phát triển trong một môi trường thân thiện với môi trường, thúc đẩy hành vi tự nhiên và giảm căng thẳng. Trại Griess Family Farm hợp tác với cộng đồng nông nghiệp gia đình địa phương nơi thức ăn được trồng, lợn được nuôi dưỡng và các sản phẩm của trang trại được sản xuất.
Điều này giữ cho lượng khí thải carbon của trang trại nhỏ và giúp bảo tồn đất nông nghiệp và truyền thống canh tác cho các thế hệ tương lai. Trang trại được xây dựng tại 220 N Saunders Ave # 1, Sutton, NE 68979, Hoa Kỳ c 4 2. Những thành tựu đạt được Trang trại Griess Family Farm tự hào cung cấp nhiều sản phẩm được xác minh bởi Dự án Non-GMO. Những sản phẩm này đến từ những con lợn nuôi trên các loại cây trồng chưa được biến đổi gen hoặc biến đổi gen.
Sản xuất thịt lợn không biến đổi gen là sự phù hợp tự nhiên đối với Mỹ, không chỉ cung cấp một sản phẩm tuyệt vời mà khách hàng của trang trại đã yêu cầu, nó hỗ trợ những người nông dân trồng thức ăn không biến đổi gen của trang trại. Nhiều nông dân thế hệ thứ ba và thứ tư hiểu được di sản và lợi nhuận trong việc trồng các loại cây gia truyền không biến đổi gen. Cây trồng giúp giữ cho truyền thống canh tác sống động và hỗ trợ các thế hệ gia đình tiếp tục. Griess Family Farm cam kết hỗ trợ sự bền vững lâu dài của các trang trại gia đình.
Trang trại hợp tác với một mạng lưới các trang trại chăn nuôi gia đình độc lập, toàn thời gian — nông dân thế hệ thứ hai và thứ ba hiểu tầm quan trọng của việc xử lý động vật và đất đai với sự tôn trọng. Thực hành chăn nuôi nhân đạo, tìm nguồn cung ứng cây trồng địa phương, cải tạo nước và ủ phân chỉ là một vài trong số các biện pháp mà nông dân thực hiện để bảo vệ trang trại của họ cho các thế hệ tương lai. Hợp tác với Griess Family làm cho có thể kinh tế cho các thế hệ tiếp theo để tiếp tục truyền thống canh tác. Các cơ sở gia công, chế biến và chế tạo của Griess Family trải qua việc kiểm tra thường xuyên, nghiêm ngặt, bên thứ ba về an toàn thực phẩm, phúc lợi động vật và thực hành sản xuất chung.
Cơ sở xử lý của trang trại là một cơ sở Tiêu chuẩn toàn cầu BRC được phê duyệt, đảm bảo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt và chi tiết không chỉ đáp ứng mà còn vượt quá và thường xuyên được xem xét và cải thiện khi quản lý với sự giám sát của bên thứ ba. Thông số kỹ thuật sản phẩm của trang trại là chính xác và đúng sự thật, đảm bảo khách hàng của trang trại nhận được chính xác những gì họ mong đợi. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Nguồn gốc, đặc điểm và một số tính năng sản suất của lợn Landrace và Yorkshine * Giống lợn Yorkshine Nguồn gốc: Giống lợn Yorkshine được hình thành do lai giữa một giống lợn địa Yorkshine (có màu lông trắng, cứng, trên da thường có vết xám đen.
Tai rủ, chân cao, đi lại nhanh nhẹn trên đông cỏ, phát triển nhanh, khả năng sinh sản trung bình) với giống lợn Châu Á, giống này có đặc điểm nhanh thành thục, dễ vỗ béo. Xương nhỏ, lưng võng, tai ngắn và đứng, lông màu đen hoặc khoang. Mắn đẻ và đẻ sai con, mông đùi kém phát triển. Nhà chăn nuôi Bakewell đã cải tiến giống lợn Leicester đen cho nhiều thịt và mỡ.
Cho lai với giống lợn Yorkshine trắng đã tạo ra giống small Yorkshine hay small White. Trong quá trình lai tạo, dần dần xuất hiện một kiểu Large White và một kiểu Middle White. Năm 1851, giống lợn Yorkshine Large White đã được hội đồng khoa học Hoàng Gia Anh công nhận là một giống mới. Đặc điểm: Lợn Yorkshine nuôi ở nước ta hiện nay nhập từ Liên Sô cũ từ năm 1964 và Cuba năm 1978.
Yorkshine Liên Sô cũ có đặc điểm toàn thân màu trăng, lông dày mềm, tai thẳng đứng, vai đầy đặn, ngực sâu, bốn chân khỏe. Yorkshine Cuba có đặc điểm toàn thân màu trắng, đầu to, trán rộng, mõm dài và hơi cong, tai đứng hơi nghiêng về phía trước Một số tính năng sản xuất: Lợn Yorkshine có ưu điểm là dòng đực có tỷ lệ nạc cao, dòng nái sinh sản cao, cả đực và cái đều có thân hình chữ nhật, bộ phận sinh dục đực lộ rõ, mắn đẻ, sai con, nuôi con khéo, chịu đựng kham khổ, có chất lượng thịt tốt, khả năng chống chịu với điều kiện khi hậu, môi trường thay đổi cao. Con đực trưởng thành có trọng lượng 350 – 380 kg. con cái đạt 250 – 280 kg.
c 6 * Giống lợn Landrace Nguồn gôc: Giống lợn Landrace có nguồn gốc từ Đan Mạch, được hình thành từ sự lai tạo giữa giống lợn Yout land có nguồn gốc từ Đức và lợn Yorkshine có nguồn gốc từ Anh. Từ năm 1907 – 1919, lợn Landrace có mức tăng trọng 546 g/ngày với 3,73 đơn vị thức ăn. Từ năm 1972 – 1973 mức tăng trọng đạt 735 g/ngày với 3 đơn vị thức ăn. Ngày nay, lợn Landrace có mức tăng trọng trung bình từ 750 – 800 g/ngày tùy theo yêu cầu chăn nuôi của từng nước.
Đặc điểm của giống lợn này là : Tai to, dài, che phủ xuống mặt, lưng thẳng, xườn tròn, bụng gọn, phần sau rất phát triển, mông xuôi thể hiện rõ tính hướng nạc, có từ 14 vú trở lên. Tính năng sản xuất: lợn nái đẻ từ 10 – 11 con/lứa, một năm từ 2 – 2,2 lứa. Khối lượng sơ sinh đạt 1,3 – 1,4 kg/con. Lợn đực trưởng thành đạt 300 – 350 kg/con, lợn nái trưởng thành đạt 250 – 300 kg.
Lợn Landrace được dùng trong kinh tế với các giống nội để nâng cao khối lượng và tỷ lệ nạc cho lợn nội theo Trương Lăng, (2002) [4]. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái - Sự thành thục về tính và thể vóc Sự thành thục về tính: Gia súc phát triển đến một giai đoạn nhất định, thì có biểu hiện về tính dục. Con đực có khả năng sinh ra tinh trùng, con cái có khả năng sinh ra tế bào trứng. Khi đấy gọi là gia súc đã thành thục về tính.
Sự thành thục về thể vóc: Sự thành thục về thể vóc thường diễn ra chậm hơn sự thành thục về tính. Sau một thời kỳ sinh trưởng và phát triển, đến một thời điểm nhất định con vật đạt tới độ trưởng thành về thể vóc. Có nghĩa là cơ thể đã tương đối hoàn chỉnh về sự phát triển của các cơ quan bộ phận như não đã phát triển khá hoàn thiện, xương đã cốt hóa hoàn toàn, tầm vóc ổn định. c 7 - Chu kỳ động dục Thời gian của chu kỳ động dục là 21 ngày, thời gian động dục là 48 giờ, biểu hiện điển hình khi động dục là âm hộ sưng tấy, đỏ mọng và mở rộng, kêu la, kém ăn, hoạt động nhiều.