ĐẶT VẤN ĐỀ Bạch cập (Bletilla striata (Thunb.) là cây thân thảo, sống lâu năm, thuộc họ Lan (Orchidaceae). Ở Trung Quốc từ hàng ngàn năm trước, củ bạch cập đã được sử dụng làm thuốc trong y học truyền thống để điều trị các bệnh thổ huyết, chấn thương, chảy máu (dạ dày), loét, sưng, đau, bỏng và nứt nẻ da. Cho đến nay, người ta đã phân lập được 125 hợp chất từ bạch cập có vai trò quan trọng trong phòng chống khối u, chống viêm (Diao et al., 2008; Zhan et al., 2014), thúc đẩy chữa lành vết thương (Luo et al., 2010), tăng trưởng tế bào (Liu MZ et al., 2008), chống viêm gan (Wang et al., 2014), điều hòa miễn dịch (Peng et al., 2014) và có các tác dụng dược lý khác. Ngoài ra, bạch cập còn được sử dụng làm mỹ phẩm, lớp phủ công nghiệp và chất kết dính (Cui et al.
Ở Việt Nam, bạch cập được xem là một cây thuốc quý để chữa các bệnh xuất huyết đường ruột, ho khạc ra máu, chảy máu cam, trị vết thương hở, bỏng lửa, v.v… nhưng hiếm vì vùng phân bố tự nhiên cũng như trữ lượng rất hạn chế (Đỗ Huy Bích và cs. Do có nhiều công dụng trong phòng trị bệnh nên trong những năm gần đây, nhu cầu ở thị trường trong nước và quốc tế đối với bạch cập tăng nên nhanh chóng, dẫn đến việc khai thác nguồn tài nguyên này trong tự nhiên tới mức cạn kiệt và khan hiếm (Li et al., 2012; Cui et al. Ở Việt Nam, bạch cập đã được liệt kê trong “Sách Đỏ Việt Nam” để chú ý bảo vệ. Trên bình diện quốc tế, bạch cập đã được đưa vào Phụ lục I của Công ước về buôn bán các loài động vật và thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng, và nằm trong sự bảo vệ hạng hai của danh sách bảo tồn thực vật hoang dã quốc gia ở Trung Quốc (Guan CD et al.
Vì vậy, việc nhân giống với quy mô lớn nhằm đảm bảo cung cấp cho thị trường và gián tiếp góp phần bảo tồn nguồn gen bạch cập trong tự nhiên là một nhu cầu cấp thiết. Hạt bạch cập không có nội nhũ nên cần nấm cộng sinh (khuẩn căn) để có thể nảy mầm, nên khả năng nảy mầm của nó trong tự nhiên rất thấp. Trong thực tế trồng trọt, tách mầm là phương pháp chính để nhân giống bạch cập. Tuy nhiên, phương pháp này không phù hợp với sản xuất giống ở quy mô lớn do chu kỳ nhân giống dài, hiệu quả và hệ số nhân giống thấp (Guan CD et al.
Kỹ thuật nhân giống vô tính in vitro cho phép nhân nhanh cây giống với hệ số nhân cao, cây giống đồng đều, số lượng lớn, có thể cung cấp một cách chủ động, khắc phục được những hạn chế của phương pháp nhân giống nói trên. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn trên đây, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xây dựng quy trình nhân nhanh in vitro cây bạch cập (Bletilla striata (Thunb. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 1. Mục đích Xây dựng được quy trình nhân nhanh in vitro cây bạch cập (Bletilla striata (Thunb.
Yêu cầu Xác định được cách khử trùng mẫu để tạo nguồn nguyên liệu cho nuôi cấy in vitro. Xác định được môi trường tái sinh chồi in vitro thích hợp. Xác định được môi trường nhân nhanh in vitro thích hợp cho hệ số nhân cao. Xác định môi trường thích hợp tạo củ in vitro.
Xác định được kích thước củ, giá thể và thời điểm thích hợp để đưa cây in vitro ra vườn ươm. Ý NGHĨA KHOA HỌC, THỰC TIỄN CỦA ĐỂ TÀI 1. Ý nghĩa khoa học Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về nhân giống in vitro cây bạch cập ở Việt Nam. Kết quả của đề tài sẽ cung cấp thêm tài liệu khoa học về khả năng ứng dụng của kỹ thuật nhân giống vô tính in vitro đối với cây bạch cập nói riêng và các loài cây dược liệu nói chung, đồng thời nó cũng là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về đối tượng tiềm năng này.
Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng là tài liệu tham khảo, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy ở trường Đại học, Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp trong lĩnh vực công nghệ sinh học. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bảo tồn và phát triển nguồn gen bạch cập, thúc đẩy sản xuất trên quy mô lớn, chủ động trong khâu sản xuất, cung cấp số lượng lớn cây giống có chất lượng cao, với giá thành cạnh tranh, tạo nguồn nguyên liệu bạch cập cho ngành Dược Việt Nam để góp phần phòng chống bệnh tật cho cộng đồng và mang lại giá trị về kinh tế cho xã hội. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂY BẠCH CẬP 2. Nguồn gốc Bạch cập có nguồn gốc từ Trung Quốc, phân bố chủ yếu ở các tỉnh Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu, Hồ Nam, Hồ Bắc và Chiết Giang (Lin et al. Bạch cập được mô tả lần đầu tiên trong cuốn sách “Thần Nông bản thảo” (Shennong’s Materia medica) của Trung Quốc về nông nghiệp và cây dược liệu (Sun et al. Ở nước ta, bạch cập mọc hoang dại ở một số vùng cao, có khí hậu mát như tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang và Tuyên Quang.
Vị trí phân loại Bạch cập có tên khoa học là Bletilla striata (Thunb., thuộc họ Lan (Orchidaceae). Trên thế giới, chi Bletilla bao gồm khoảng 6 loài, phân bố chủ yếu ở Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Nhật Bản và Miến Điện (Li B et al. Ở Trung Quốc có bốn loài là B. Hiện tại, chỉ có B.
striata được ghi nhận là cây thuốc trong Dược điển Trung Quốc (Zhao YX et al. striata rất dễ nhầm lẫn với 3 loài còn lại. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm hình thái của 4 loài Bletilla ở Trung Quốc (Chinese Academy of Sciences ‘‘Chinese Flora’’ Editorial Board, 1999) Độ cao Tên loài Lá Củ Hoa Phân bố địa lý (m) B.
striata 4 - 6 lá, lá thường Hình cầu, có các Số hoa trên cụm: 3 - 10 100 - Phía Nam của tỉnh Sơn Tây, to, thuôn hẹp hoặc vòng tròn đồng bông; hoa to; màu đỏ tía 3.200 phía Đông Nam của tỉnh Cam hình mác, đầu lá tâm ở phần phía hoặc hồng tía; đài hoa và Túc, Giang Tô, An Huy, Chiết nhọn, phần mặt lá trên, chứa nhiều cánh hoa dài khoảng 25 - Giang, Giang Tây, Hồ Nam, được bao bọc lại, nhớt. 30 mm; môi hoa chia thành Quảng Đông, Quảng Tây, Tứ và ôm lấy nhau. 3 thùy, 5 phiến môi trên, Xuyên, Quý Châu - Trung phiến uốn lượn. Hoa nở từ Quốc, Bán đảo Triều Tiên và tháng 4 - tháng 5.
formosana 3 - 5 lá, nhỏ, có kích Hình cầu dạng Hoa mọc thành chùm gồm 600 - Phía Nam của tỉnh Sơn Tây, thước thay đổi đa trứng, có các vòng 2 - 6 bông; hoa nhỏ, có màu 3.100 phía Đông Nam của tỉnh Cam dạng. tròn đồng tâm ở tím hoặc hồng; đài và cánh Túc, Quảng Tây, Tứ Xuyên, phần phía trên, hoa dài khoảng 15 - 21 mm; Quý Châu, trung tâm phía Tây chứa nhiều nhớt. môi hoa chia thành 3 thùy, Bắc của Vân Nam, phía Đông 5 phiến môi trên; phiến uốn Nam của Tây Tạng - Trung lượn. Hoa nở từ tháng 4 - Quốc, Đài Loan và Nhật Bản.
tháng 5 hoặc tháng 6. ochracea 4 lá, thuôn hình Hình cầu dạng Số hoa trên cụm: 3 - 10 300 - Phía Nam của tỉnh Sơn Tây, mác trứng, hoặc các bông; hoa to trung bình; 2.350 phía Đông Nam của tỉnh Cam 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Độ cao Tên loài Lá Củ Hoa Phân bố địa lý (m) hình dạng không màu trắng vàng hoặc xanh Túc, Hà Nam, Hồ Bắc, Quảng đều, có các vòng vàng; đài hoa và cánh hoa Tây, Tứ Xuyên, Quảng Châu, tròn đồng tâm ở dài khoảng 25 - 30 mm; Vân Nam - Trung Quốc. phần phía trên, môi hoa chia thành 3 thùy, 5 chứa nhiều nhớt. phiến môi trên, phiến uốn lượn.
Hoa nở từ tháng 5 - tháng 6. sinensis 2 - 3 lá, hình mác - Số hoa trên cụm: 3 - 10 - Tỉnh Vân Nam - Trung Quốc bông; hoa nhỏ và có màu và Thái Lan. tím, môi hoa không chia thùy hoặc không chia 3 thùy riêng biệt, 3 phiến môi trên, phiến có mép răng cưa hoặc cờ. Đặc điểm thực vật học Bạch cập là cây thảo sống lâu năm, cao 18 - 60 cm, lá mọc so le từ rễ lên gồm 4 - 6 lá hình mác, dài 18 - 40 cm, rộng 5 cm.
Hoa mọc thành chùm ở thân ngọn, mỗi chùm có từ 3 đến 10 bông. Hoa to, màu đỏ tía hoặc hồng tía, đài hoa và cánh hoa dài khoảng 25 - 30 mm; môi hoa chia thành 3 thùy. Hoa nở rộ từ tháng 4 đến tháng 5. Quả hình thoi, có 6 cạnh, dài khoảng 3 cm, đường kính 1 cm.
Thân rễ hình cầu dẹt, không đều, hầu hết có ngạnh dạng móng, dài 1,5 - 5 cm, dày 0,5 - 1,5 cm. Mặt ngoài trắng ngà hoặc trắng xám, bên trên có vân tròn đồng tâm, có các nốt màu nâu là sẹo của rễ con. Các sẹo của thân nhô cao lên, mặt dưới có vết của củ khác nối liền. Mặt cắt ngang màu hơi trắng trong như sừng (Flora of China Editorial Committee, 2009; Wiart, 2012) (Hình 2.
Cây bạch cập (Bletilla striata (Thunb. Củ dạng thân rễ (rhizome) của bạch cập 2. Bộ phận dùng và cách sơ chế Sử dụng thân rễ (củ) đã phơi hoặc sấy khô. Củ bạch cập được thu hoạch vào tháng 11, bỏ rễ con, rửa sạch đất cát, luộc hoặc đồ lên đến khi mặt cắt ngang thân 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rễ không còn lõi trắng, phơi đến khô một nửa, bỏ vỏ ngoài rồi phơi tiếp đến khô (Hình 2.
Dược liệu (củ dạng thân rễ) bạch cập khô 2. Thành phần hóa học Đến nay, người ta đã phân lập được khoảng 125 hợp chất từ bạch cập, trong đó có các polysaccharide, bibenzyl, dihydrophenanthrene, biphenanthrene, phenanthrene (Yamaki M et al., 1991; Li B et al., 1993; Morita et al., 2005; Feng JQ et al., 2008), các triterpenoid và saponin của chúng, các steroid và saponin của chúng, các cyanidin glycoside, phenanthraquinone, anthraquinone, lignan, organic acid, và các glucosyloxybenzyl 2 - isobutylmalate (He et al. Ngoài ra còn có tinh bột, tinh dầu và chất nhầy (Đỗ Huy Bích và cs. Tác dụng dược lý và công dụng Tác dụng cầm máu: Bạch cập có tác dụng rút ngắn thời gian đông máu, làm tăng tốc độ lắng máu ở thỏ.