Đặt vấn đề Sâm cau có nhiều tên như Ngải cau, Cô nốc lan, Tiên mao, với tên khoa học Curculigo orchioides Gaertn thuộc họ thuộc họ thủy tiên (Amaryllidaceae) [17]. Sâm cau là loại cây thân thảo mọc hoang ở những vùng núi rừng tại Việt Nam, Lào, Malysia, Thái Lan, Philippine, Ấn Độ, Trung Quốc [22], [30], [31]. Ở Việt Nam Sâm cau phân bố rải rác ở các tỉnh vùng núi, từ Lai Châu, Tuyên Quang, Cao Bằng đến Tây Nguyên [4]. Theo y học cổ truyền Ấn Độ, Sâm cau có tính chất nhầy dịu, tác dụng lợi tiểu, bổ kích dục, sử dụng chữa trĩ, vàng da, hen suyễn, tiêu chảy.
Theo y học cổ truyền Trung Quốc gọi tên Sâm cau với tên gọi “Xianmao” được sử dụng như thuốc bổ để điều trị suy giảm thể lực, chữa bệnh hen suyễn, còi, vàng da, tiêu chảy, đau bụng và bệnh lậu, kháng viêm, chống ung thư và tăng cường chức năng sinh lý cho nam giới [21], [22], [30], [44]. Như vậy có thể nhận thấy rằng, tác dụng chính của S â m c a u là tăng cường sức khỏe và tinh thần, giảm mệt mỏi, tăng sức lực và độ dẻo dai, tăng cường chức năng sinh lý nam giới, củng cố hệ thống miễn dịch,… Trên thị trường nước ngoài đang cho phép bán các chế phẩm có nguồn gốc Sâm cau, chẳng hạn như chế phẩm “KAMA SUTRA CAPSULE” của hãng Alma Health Care, “STRONG-NITE CAPSULE” của hãng Medimix, „POTENCY PLUS” và “BRAINCARE” của Trung Quốc, “AIPANI KAMON” của hãng Vaipani và "SHARMIOTONE SYRUP” của hãng Sharmila [22]. Do giá trị dược liệu lớn vì vậy Sâm cau đã bị khai thác tới mức cạn kiệt trong tự nhiên. Do đó việc tìm ra kỹ thuật nhân giống cho đối tượng này trong tự nhiên là rất quan trọng.
Theo tài liệu kỹ thuật nhân giống một số loài cây thuốc quan trọng đang được thương mại, công bố ở Ấn Độ đã mô tả, Sâm cau có thể sử dụng nhân giống vô tính bằng phương pháp cắt mầm giâm hom. Tuy nhiên, với sự tìm hiểu của chúng tôi chưa có quy trình nào công bố về quy trình nhân giống vô tính Sâm cau bằng 1 2 phương pháp cắt mầm giâm hom cũng như bằng hạt. Do đó thực tế đang đòi hỏi phải xây dựng được quy trình nhân giống nhanh, đơn giản, dễ thực hiện, hệ số nhân cao, đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, để khắc phục hạn chế nhân giống loài cây này trong tự nhiên [23]. Trên thế giới, cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu nhân giống cây Sâm cau bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật.
Các nghiên cứu đã khẳng định Sâm cau có thể nhân giống bằng phương pháp in vitro. Quy trình nhân giống đơn giản, hệ số nhân giống cao. Và theo các nghiên cứu này cho thấy không có sự thay đổi về hình thái nuôi cấy so với cây mẹ [30], [34], [41]. Ở Việt Nam, tài liệu nhân giống Sâm cau còn ít và hạn chế chính vì vậy việc tìm ra quy trình nhân nhanh loài cây quý hiếm này bằng phương pháp in vitro là cần thiết.
Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hƣởng của chất kích thích sinh trƣởng đến khả năng nhân giống cây Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn) bằng phƣơng pháp in vitro”. Mục đích nghiên cứu Xác định được ảnh hưởng của hàm lượng chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nhân giống cây Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn) bằng phương pháp in vitro. Yêu cầu của đề tài - Xác định loại Cytokinin thích đến khả năng tái sinh chồi cây Sâm cau. - Xác định được hàm lượng chất kích thích hợp đến khả năng nhân nhanh chồi cây Sâm cau.
- Xác định được hàm lượng loại Auxin thích hợp đến khả năng ra rễ cây Sâm cau. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học của đề tài - Giúp cho sinh viên củng cố và hệ thống lại kiến thức đã học vào thực tiễn. Đồng thời tiếp cận công tác nghiên cứu khoa học phục vụ cho việc nghiên cứu và công tác sau này.
2 3 - Biết được phương pháp nghiên cứu một vấn đề khoa học, xử lý, phân tích số liệu, trình bày một báo cáo tốt nghiệp. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp xây dựng phương pháp nhân nhanh giống cây Sâm cau bằng phương pháp nuôi cấy mô, hoàn thiện quy trình nhân nhanh giống Sâm cau bằng phương pháp nuôi cấy in vitro, tạo ra số lượng giống Sâm cau với số lượng lớn, chất lượng tốt, đồng đều phục vụ cho quy trình sản xuất. 3 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu chung về cây Sâm cau 2.
Nguồn gốc Sâu cau đã được ghi nhận trong thực vật chỉ của một số nước từ rất lâu và ở bậc phân loại loài. Theo một số tài liệu, Sâm cau phân bố Ấn Độ, Sri Lanka, Trung Quốc, Nhật Bản, Úc, các nước Đông Nam Á như Việt Nam, Lào, Thái Lan, Malaysia, v. Ở Ấn Độ, Sâm cau được gọi với tên “Golden eye grass” hoặc “Black Musli” Sâm cau là loài thân thảo, thân củ, kích thước nhỏ. Sâm cau có nguồn gốc ở vùng rừng chịu bóng ở Châu Á.
Cây sinh trưởng, phát triển tốt ở vùng đồng bằng nơi đất màu mỡ, ẩm, từ độ cao tới 2300 m so với mặt nước biển và đặc biệt trên khe đá, đất đá ong ẩm [40], [41], [61]. Phân loại Theo bảng phân loại của Chauhan và cs (2010) [29], cây Sâm cau được phân loại như sau: Bảng 2.1: Phân loại cây Sâm sau của Chauhan và cs (2010) Giới (Kingdom) Plantae Ngành (Division) Spermatophyta Lớp (Class) Monocotyledon Bộ (Order) Liliidae Họ (Family) Amaryllidaca Chi (Genus) Curculigo Loài (Species) Orchiodes 4 5 2. Đặc điểm hình thái học của Sâm cau - Đặc điểm của thân rễ Sâm cau là cây thân thảo sống lâu năm chiều cao khoảng 20 - 30 cm, có khi hơn. Thân rễ mập, hình trụ dài, mọc thẳng, thóp lại ở hai đầu chiều dài 2,5 - 5 cm, đường kính 1,0 - 4,5 cm, bề mặt bên ngoài màu nâu đen mang nhiều rễ phụ có dạng giống thân rễ, bên trong có màu kem; vị nhầy và hơi đắng [4], [52].
Cây Sâm cau - Đặc điểm của lá Lá mọc thành túm từ thân rễ xếp nếp và có gân như lá cau, dài 15 - 45 cm, rộng 2,5 - 3 cm, gốc thuôn, đầu nhọn, hai mặt nhẵn gần như cùng nhau, gân song song, bẹ lá to và dài; cuống lá dài khoảng 10 cm [4], [52]. Đặc điểm của hoa - Đặc điểm của quả và hạt Quả nang, thuôn, dài 1,5 - 2 cm, rộng 8 mm, 1 - 4 hạt, phình ở đầu, kích thước 1 - 2 mm, màu đen. Mùa hoa quả: từ tháng 5 - 7 [4], [52]. Quả và hạt Sâm cau 5 6 2.
Giá trị dược liệu của Sâm cau 2. Giá trị làm thuốc của Sâm cau Theo y học cổ truyền Ấn Độ, Sâm cau có tính chất nhầy dịu, tác dụng lợi tiểu, kích dục, sử dụng trong điều trị bệnh trĩ, vàng da, hen suyễn, tiêu chảy. Sâm cau được sử dụng bằng cách giã đắp ngoài để chữa ngứa và bệnh ngoài da. Bên cạnh đó Sâm cau còn được sử dụng làm thuốc tăng cường chức năng sinh lý cho nam giới.
Trong y học cổ truyền Trung Quốc Sâm cau có tên “Xianmao” được sử dụng như thuốc bổ để điều trị suy giảm thể lực, chữa bệnh hen suyễn, còi, vàng da, tiêu chảy, đau bụng và bệnh lậu, kháng viêm, chống ung thư. Nó cũng được sử dụng để làm giảm đau, lợi tiểu, thuốc bổ và tăng cường chức năng sinh lý cho nam giới [21], [22], [30], [44], [55] Tên dược liệu Sâm cau là Rhizoma Curculiginis. Theo kinh nghiệm dân gian, thân rễ (hay củ) của cây Sâm cau có vị cay, tính ấm, hơi có độc, bổ thận tráng dương, trừ tê, tráng gân cốt, chủ trị tinh lạnh, liệt dương, đái đục ở nữ, bạch đới, người già đái són, lạnh da, thần kinh suy nhược, phong thấp, lưng gối lạnh đau, vận động khó khăn. Sâm cau được phối hợp với các dược liệu khác sử dụng như thuốc điều trị tiêu biểu như trị sốt xuất huyết, chữa tê thấp, đau mình mẩy, chữa cao huyết áp (tiền mãn kinh), bồi bổ, tráng dương, trị nam tinh lạnh, liệt dương, nữ lạnh tử cung, chữa phong thấp, lưng lạnh đau, thần kinh suy nhược, bồi bổ cho người già, phụ nữ sau sinh, chữa liệt dương do rối loạn thần kinh chức năng, chữa tiêu chảy.
Sâm cau được thu hoạch quanh năm, nhưng tốt nhất vào mùa thu, bộ phận thu hoạch làm thuốc là thân, rễ mang về cạo sạch vỏ ngoài hoặc để nguyên ngâm nước gạo để khử độc, rồi phơi hay sấy khô cất sử dụng dần [4]. Trên thị trường nước ta đang cho phép bán các chế phẩm có nguồn gốc Sâm cau, chẳng hạn như chế phẩm “OCHUKIM” sử dụng hỗ trợ điều trị suy giảm chức năng sinh lý cho nam giới, vô sinh, hiếm muộn do tinh lạnh, tinh loãng, ngăn ngừa và chống lại những bất thường về tinh trùng, giúp bồi bổ sức khỏe, bổ thận tráng dương, tăng cường sinh lực, giảm căng thẳng mệt mỏi, tăng khả năng làm việc trí óc và chân tay của tập đoàn Tuệ Linh. Thành phần hóa học và tác dụng dược lý Thành phần hóa học của Sâm cau Các nghiên cứu đã xác định được thành phần hóa học của Sâm cau gồm các chất chính là glycosids, là những chất có hoạt tính dược học chủ yếu của dược liệu Sâm cau. Các chất có hoạt tính trong củ Sâm cau được xác định gồm flavones, glycosite, steroids, saponins, triterpenoids và các hợp chất khác trong cây đã được báo cáo bởi các tác giả (Ajit 2012, Mistra et al.
1990, Nagesh 2008, Neema et al. 2010, Xu et al. Cho đến nay đã có một số chỉ thị khác nhau như các chất glycosides được sử dụng làm chất chuẩn góp phần nhận dạng dược liệu Sâm cau [30] Theo Wealth of India (1950) củ Sâm cau chứa đường tự do (7. Thành phần hóa học của thân củ Sâm cau đã được công bố bởi nhiều tác giả, bao gồm các nhóm sau: Nhóm Steroids và triterpenoids: Gồm steroids, sitosterol, stigmasterol [33] và yuccagenin [58].
Trong số 6 triterpenes được chiết tách có 1 triterpene là axit 31- methyl-3-oxo-20-ursen-28-oic [39] và số còn lại là cycloartene như cycloartenol [33], curculigol, curculigenin [60], [61], Curculigenin B và curculigenin C [59]. Nhóm Glycosides và saponins: 13 saponins đã được tách chiết và đặc trưng từ thân củ và đặt tên là các chất phenol A - M curculigosaponins [61], [62]. Tiếp đó, 5 chất phenol đã được tách chiết là curculigoside (5-hydroxy-2-O-β-D- glucopyranosyl benzyl-2,6-dimethoxy benzoate [36], curculigine A và orcinol glucoside [59], corchioside A [33]và flavanone glycoside - I(glycoside–5,7- dimethoxy-dihydromyricetin-3-O-α-L-xylopyranosyl (4-1)-β-D-glycopyranoside. Nema và cs (2010) đã chiết tách và nhận biết thêm một chất glycoside mới đặt tên là 2-β- D-glucopyranosyloxy-5-hydroxybenzyl-2‟,6‟-dimethoxy-3‟-ydroxybenzoate.